Top 6 Bài soạn "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê" của Hạ Tri Chương lớp 7 hay nhất

Hạ Tri Chương là bạn vong niên của thi hào Lí Bạch, thích uống rượu, tính tình hào phóng. Đến nay, ông còn để lại 20 bài thơ. Bài thơ "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê" được viết nhân lần tác giả tình cờ về thăm quê vào năm 744, khi ông đã 86 tuổi. Bài thơ thể hiện một cách chân thực mà sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn mà Toplist tổng hợp trong bài viết sau đây.

Bài soạn "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê" số 3

I. Tác giả

- Hạ Tri Chương (659 - 744) tự Quý Châu, hiệu Tứ Minh cuồng khách.

- Quê ở Vĩnh Yên, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc).

- Ông là một nhà thơ nổi tiếng của thời nhà Đường.

- Năm 659, ông đỗ tiến sĩ, sinh sống và làm quan hơn 50 năm ở kinh đô Trường An và rất được Đường Huyền Tông nể phục.

- Lúc xin từ quan về quê làm đạo sĩ, vua Đường có tặng thơ và các quan, thái tử đều đến đưa tiễn.

- Ông còn được biết đến là một người bạn vong niên (bạn chơi với nhau không kể tuổi tác) với nhà thơ Lý Bạch.

- Hạ Tri Chương là một con người hào phóng, cởi mở và rất thích uống rượu.

- Một số tác phẩm tiêu biểu như: Đề Viên thị biệt nghiệp, Hồi hương ngẫu thư, Thái liên khúc, Vịnh liễu.


II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

- Bài thơ được Hạ Tri Chương sáng tác nhân lúc về thăm quê cũ ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc).

- Bài thơ được viết với tâm trạng đau xót khi về quê cũ mà lại bị người ở quê coi là “khách xa xứ” do đã lâu không về quê. Đồng thời bộc lộ tình yêu quê hương tha thiết, sâu đậm.

- Đây là bài thơ nổi tiếng nhất của Hạ Tri Chương với nhiều giá trị cả về nội dung lẫn nghệ thuật.

2. Thể thơ

- Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

3. Bố cục

Gồm 2 phần:

Phần 1. Hai câu đầu: Sự thay đổi của nhân vật trữ tình khi trở về quê hương.
Phần 2. Hai câu sau: Sự thay đổi của quê hương sau nhiều năm nhân vật trữ tình trở về quê.


III. Đọc - hiểu văn bản

1. Hai câu đầu: Sự thay đổi của nhân vật trữ tình khi trở về quê hương

- Câu thơ mở đầu nói về một nghịch cảnh: Lúc rời khỏi quê hương vẫn còn trẻ, nhưng khi trở về thì đã có tuổi - đã già rồi. Qua đó người đọc thấy được khoảng thời gian xa quê của nhân vật trữ tình là rất dài. Đồng thời thể hiện sự day dứt, nuối tiếc khi đến gần đến cuối cuộc đời mới có thể trở về quê.

- Sự đối lập: “Giọng quê không thay đổi” nhưng “mái tóc đã điểm bạc”. Suốt nhiều năm bôn ba nơi đất khách quê hương, tuổi tác có thể làm thay đổi vẻ bên ngoài (mái tóc đã bạc trắng) nhưng những gì thuộc về gốc gác quê hương (giọng nói, tấm lòng) vẫn không thể thay đổi. Đó chính là tình cảm thủy chung son sắc của nhà thơ dành cho quê hương.

=> Hai câu đầu đã khái quát được quãng thời gian đằng đẵng xa quê của nhà thơ. Đồng thời bộc lộ nỗi niềm xót xa, nhớ mong của nhân vật trữ tình.


2. Hai câu sau: Sự thay đổi của quê hương sau nhiều năm nhân vật trữ tình trở về quê

- Sau nhiều năm trở về quê hương, đáng lẽ ra nhân vật trữ tình phải nhận được sự chào đón của những người dân quê. Nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại.

- Câu hỏi hồn nhiên của đứa trẻ: “Khách tòng hà xứ lai? (Khách ở nơi nao đến?). Thời gian qua đi, giờ đây những bạn bè, người thân cũ không còn tin tức nữa. Khi trở về chỉ có những đứa trẻ ra đón với một câu hỏi vừa ngây thơ vừa chân thật.

- Từ “khách” đã chỉ ra một thực tế xót xa: Một người con của quê hương, sau bao nhiêu năm mới trở về đã trở thành con người xa lạ. Dường như, con người ấy đã trở nên lạc lõng ngay chính trên mảnh đất gắn bó máu thịt của mình.

=> Hai câu cuối đã xây dựng tình cảnh của nhân vật trữ tình đầy hóm hỉnh mà cũng thật xót xa.


IV. Tổng kết

- Nội dung: Bài thơ đã thể hiện tình yêu sâu sắc của một người con xa quê lâu ngày nay được trở về quê.

- Nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, giọng điệu hài hước mà đầy sâu sắc.

Soạn văn Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê ngắn gọn


V. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Qua tiêu đề bài thơ, có thể thấy sự biểu hiện tình yêu quê hương ở bài thơ này có gì độc đáo?

- Nhan đề có sự độc đáo ở chỗ: “ngẫu nhiên viết” - không hoàn toàn chủ định viết mà nhân buổi trở về quê hương, đối mặt với sự đổi thay mà viết thành bài thơ bộc lộ tâm tư tình cảm của mình.

- Còn trong bài thơ “Tĩnh dạ tứ”: Tác giả đang ở xa quê hương, trong đêm trăng sáng nhớ về quê hương của mình mà sáng tác bài thơ.


Câu 2. Chứng minh hai câu đầu vẫn dùng phép đối trong câu (gọi là tiểu đối). Nêu tác dụng của việc dùng phép đối ấy.

- Phép đối trong hai câu đầu là:

Câu thơ 1: Đối giữa “thiếu tiểu” - “lão đại” (trẻ - già) và “li gia” - “đại hồi” (đi - về).
Câu thơ 2: Đối giữa giọng quê không đổi (cái không đổi) - tóc đã điểm bạc (cái đã thay đổi).
- Tác dụng: Nhấn mạnh vào sự thay đổi qua thời gian cũng như khẳng định tấm lòng son sắc với quê hương.


Câu 3. Kẻ lại bảng sau vào vở và đánh dấu x vào ô mà em cho là hợp lý. Sau khi đánh dấu, có thể dùng lời để giải thích thêm, cũng có thể dùng cách giải thích khác có trong các ô.

Phương thức biểu đạt

Tự sự: Câu 1

Miêu tả: Câu 2

Biểu cảm: Câu 1

Biểu cảm qua tự sự: Câu 1

Biểu cảm qua miêu tả: Câu 2

- Nhận xét:

Câu 1: Kể lại sự việc được về quê, qua đó bộc lộ niềm nhớ thương đối với quê hương.
Câu 2: Miêu tả hình ảnh của bản thân sau nhiều năm mới được trở về quê, qua đó bộc lộ tấm lòng thủy chung với quê hương.


Câu 4. Sự biểu hiện của tình quê hương ở hai câu trên và hai câu dưới có gì khác nhau về giọng điệu?

- Hai câu trên: Giọng điệu xót xa trước sự chảy trôi của thời gian.

- Hai câu dưới: Giọng điệu hóm hỉnh mà đầy sâu sắc, nhưng cũng chứa đựng nỗi buồn.


II. Luyện tập

Căn cứ vào bản dịch nghĩa bài thơ Hồi hương ngẫu thư và những điều cảm nhận được qua việc học bài thơ, hãy so sánh bản dịch thơ của Phạm Sỹ Vỹ và Trần Trọng San.

* Giống nhau:

- Đều được dịch lại dưới hình thức của thể thơ lục bát.

- Vẫn giữ được những hình ảnh như giọng quê không đổi, mái tóc đã điểm bạc và câu hỏi của đứa trẻ.

* Khác nhau:

- Bản dịch của Phạm Sỹ Vỹ:

Cách dịch “tóc đà khác bao” không làm rõ được sự thay đổi của nhân vật sau nhiều năm trở về quê.
Không có hình ảnh “tiếu vấn” (cười hỏi) làm mất đi nét hóm hỉnh của bài thơ.
- Bản dịch của Trần Trọng San:

Hình ảnh “sương pha mái đầu” có tính biểu tượng cao thể hiện được sự thay đổi của nhân vật.
Các dịch “gặp nhau mà chẳng biết nhau” ở câu thơ 3 không sát với bản phiên âm, các câu thơ không có sự liên kết nhịp nhàng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê" số 4

Tìm hiểu chung tác phẩm

a. Tác giả:

Hạ Tri Chương: Sinh năm 659-744. Xa quê từ nhỏ, 86 tuổi mới được trở lại quê hương.
Ông để lại cho đời hơn 20 bài thơ. Trong đó có hai bài “hồi hương ngẫu thư”.
b. Tác phẩm:

Nhan đề bài thơ:
"Ngẫu nhiên viết" chứ không phải tình cảm được bộc lộ một cách ngẫu nhiên.
Từ "ngẫu" không làm giảm giá trị của bài thơ mà còn làm tăng ý nghĩa của bài lên gấp bội.
Thể loại:
Nguyên tác: Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Dịch thơ: Thể thơ lục bát.
Nhịp lẻ: 4/3, câu cuối: 2/5.
Gieo vần: Câu 1 và câu 2. Vần "ôi".
Bố cục: Khai thừa chuyển hợp.

Trả lời câu hỏi
Câu 1:
Qua tiêu đề bài thơ ta thấy …

Qua tiêu đề bài thơ ta thấy biểu hiện tình quê hương ở bài này có gì độc đáo?

Trả lời:

Lí do để bài thơ ra đời là một nghịch lí ngậm ngùi bị gọi là khách ngay trên chính quê hương mình trong ngày đầu tiên trở về. Khác với Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch do ở xa quê nhớ quê nên mới viết về quê.


Câu 2
: Chứng minh hai câu đầu đã dùng phép đối …

Chứng minh hai câu đầu đã dùng phép đối trong câu. Nêu tác dụng của việc dùng phép đối ấy.

Trả lời:

Hai câu đầu của bài thơ này có hình thức tiểu đối:
Thiếu tiểu li gia / lão đại hồi

Hai quãng đời đối lập nhau của đời người. Hai hành động trái ngược nhau trẻ ra đi, già quay về => thể hiện tấm lòng luôn hướng về quê của con người đã gần đi hết cuộc đời mình.
Hương âm vô cải / mấn mao tồi.

Hai câu đối, mỗi câu hai vế, mỗi vế có hai bộ phận đối nhau rất chỉnh.
Câu thứ hai nêu bật lên yếu tố thay đổi (mái tóc đã bạc) và khẳng định một yếu tố không thay đối (giọng quê). Tiếng nói quê hương dù bao năm xa quê nhưng vẫn luôn khắc sâu trong tâm trí nhân vật trữ tình.

=>Như vậy, hai câu thơ đầu tác giả đã sử dụng phép đối để thể hiện những sự đối lập, những điều thay đổi và những điều vẫn còn giữ mãi theo thời gian.


Câu 3
: Kẻ lại bảng sau và đánh dấu X vào ô mà em cho hợp lí

(bảng trang 127 sgk)

Sau khi đánh dấu, có thể dùng lời để giải thích thêm, cũng có thể dùng cách giải thích khác không có trong các ô.

Trả lời:

Tự sự: Câu 1
Miêu tả: Câu 2
Biểu cảm: Câu 1
Biểu cảm qua tự sự: Câu 1
Biểu cảm qua miêu tả: Câu 2

Câu 1: Tự sự + biểu cảm => Biểu cảm qua tự sự
Câu 2: Miêu tả + biểu cảm => Biểu cảm qua miêu tả.

Câu 4
: Sự biểu đạt của tình quê hương …

Sự biểu đạt của tình quê hương ở hai câu trên và hai câu dưới có gì khác nhau về giọng điệu?

Trả lời:

Hai câu đầu:
Trẻ đi, già trở lại nhà

Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu

=> Hai câu thơ đầu có giọng điệu nhẹ nhàng, bình thản, khách quan song pha lần nỗi buồn ngậm ngùi bởi quá lâu rồi tác giả mới về thăm quê (trẻ đi – già về).

Hai câu sau:
Trẻ con nhìn lạ không chào

Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?

=>Hai câu sau là giọng điệu hóm hỉnh, bi hài chứa đựng một nỗi buồn ngậm ngùi, cô đơn của tác giả khi về đến quê nhà. Mâu thuẫn trong nội tâm là ở chỗ tình cảm sâu nặng thủy chung của nhà thơ đối với quê hương nhưng nay bỗng thành người xa lạ. Câu hỏi hồn nhiên của các em nhỏ làm cho tác giả vừa vui, vừa buồn.


Luyện tập

Căn cứ vào bản dịch nghĩa bài Hồi hương …

Căn cứ vào bản dịch nghĩa bài Hồi hương ngẫu thư và những điều nhận được qua việc học bài thơ này, hãy so sánh bài thơ dịch của Phạm Sĩ Vĩ và Trần Trọng San?

Trả lời:

Giống nhau:
Cả hai bản dịch đều sử dụng thể thơ lục bát.
Sát với bản dịch nghĩa
Khác nhau:
Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ không có hình ảnh tiếu: tiếng cười của trẻ con. Đồng thời cũng không dịch được sát ý thơ tương kiến, bất tương thức (gặp nhau, không biết nhau).
Bản dịch của Trần Trọng San hai câu cuối dịch sát với nguyên tác hơn. Tuy nhiêm âm điệu câu cuối không được mềm mại, hơi bị hụt hẫng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê" số 2

Trả lời câu 1 (trang 127, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

- Tiêu đề bài thơ gợi ra hoàn cảnh sáng tác: sau 50 năm trở về thăm quê, tình huống bất ngờ xảy ra: ông bị đám trẻ nhỏ gọi là khách, điều đó khiến ông xót xa cũng là duyên cớ để nhà thơ chắp bút.

- So sánh với bài Tĩnh dạ tứ: ở nơi xa nhà, nhìn trăng sáng mà nhớ quê.


Trả lời câu 2 (trang 127, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

- Hai câu đầu đã sử dụng tiểu đối khá chuẩn. Mỗi câu có 2 vế, mỗi bộ phận trong mỗi vế đối nhau rất chỉnh cả lời và ý:

Thiếu tiểu li gia – lão đại hồi,

Hương âm vô cải – mấn mao tồi.

+ Li gia (rời nhà) đối với đại hồi (trở về).

+ Hương âm (giọng quê hương) đối với mấn mao (tóc mai).

+ Thiếu tiểu (lúc nhỏ) đối với lão (về già)

+ Vô cải (không thay đổi) đối với tồi (thay đổi)

- Tác dụng của việc dùng phép đối đó là: đã cho ta thấy được ý nghĩa của cuộc đời xa quê của tác giả.


Trả lời câu 3 (trang 127, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

Tự sự: Câu 1

Miêu tả: Câu 2

Biểu cảm: Câu 1

Biểu cảm qua miêu tả: Câu 1

Biểu cảm qua tự sự: Câu 2

- Câu 1 là kể khái quát, ngắn gọn quãng đời xa quê, làm nổi bật sự thay đổi vóc dáng, tuổi tác, hé lộ những tình cảm với quê hương của nhà thơ.

- Câu 2 miêu tả về sự thay đổi của mái tóc nhưng giọng quê, tình cảm sâu nặng với quê vẫn vậy.


Trả lời câu 4 (trang 127, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

- Giọng điệu của hai câu đầu tuy nói về sự thay đổi của thời gian và của con người nhưng lại đó phảng phất buồn.

- Hai câu sau giọng điệu có chút hóm hỉnh nhưng chứa đựng nỗi buồn trong lòng.


Luyện tập

Video hướng dẫn giải

So sánh hai bản dịch thơ :

- Giống: đều dịch theo thể lục bát và sát với bản dịch nghĩa.

- Khác: Bản của Phạm Sĩ Vĩ không có hình ảnh tiêu biểu (trẻ cười), còn bản dịch của Trần Trọng San âm điệu câu cuối không được mềm mềm mại, hơi hụt hẫng.


Bố cục

2 phần

- Phần 1 (2 câu đầu): Những thay đổi và không thay đổi của con người.

- Phần 2 (2 câu cuối): Tâm trạng nhà thơ khi bị coi là khách ở quê.


Nội dung chính

Bài thơ diễn tả một cách chân thực mà sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê" số 5

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

- Hạ Tri Chương (659-744), tự Quý Chân, hiệu Tứ Minh cuồng khách, quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc).
- Ông đỗ tiến sĩ năm 695, sinh sống, học tập và làm quan trên 50 năm ở kinh đô Trường An, rất được Đường Huyền Tông vị nể. Sau đó, ông xin từ quan về làm đạo sĩ.
- Ông là bạn vong niên của thi hào Lí Bạch.
- Ông thích uống rượu, tính tình hào phóng, ông còn để lại 20 bài thơ.
2. Sự nghiệp văn học
Thơ văn của ông phần nhiều phục vụ cung đình. Có một số ít bài thơ xuất sắc phải kể đến là hai bài Hồi hương ngẫu thư của ông sáng tác khi từ quan về quê thăm nhà sau hơn năm mươi năm xa cách.
3. Tác phẩm

Bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê (Hồi hương ngẫu thư) là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, được xây dựng dựa trên một cái tứ độc đáo. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương ngậm ngùi mà sâu sắc của tác giả.


II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Qua tiêu đề bài thơ, chúng ta có thể thấy, bài thơ này thể hiện tình yêu quê hương một cách hoàn toàn khác. Nếu ngày xưa, nỗi nhớ quê hương thường được thể hiện qua nỗi sầu của người con xa xứ, thì ở đây, tình quê lại được thể hiện ngay khi vừa mới đặt chân về đến quê nhà, ngay khi tưởng là được hạnh phúc và vui mừng nhất.

Khác hoàn toàn với Lí Bạch trong bài thơ Tĩnh dạ tứ vì xa quê, nhớ quê nên mới viết về quê hương. Còn với Hạ Tri Chương, ông viết bài thơ một cách “ngẫu nhiên”, tình cảm chợt bộc lộ ngay khi vừa bước chân trở về quê.


Câu 2:

Hai câu đầu trong bài thơ, tác giả đã sử dụng phép đối, cụ thể là phép tiểu đối:

Thiếu tiểu li gia / lão đại hồi

Hương âm vô cải / mấn mao tồi.

Hai câu đối, mỗi câu hai vế, mỗi vế lại có hai bộ phận đối nhau rất chỉnh. Thiếu tiểu >< lão, Li gia >< đại hồi, hương âm >< mấn mao, thiếu tiểu >< lão, vô cải >< tồi. Tuy ở đây hơi có sự chênh lệch về lời, song về ý lại rất chuẩn (thiếu tiểu: còn nhỏ, lão: về già, vô cải: không thay đổi, tồi: chỉ sự thay đổi). Hơn thế nữa, xét về ngữ pháp, hai câu thơ có chủ ngữ, vị ngữ đầy đủ nên đọc lên nghe rất hài hòa.

Tác dụng của phép tiểu đối: giúp nhà thơ thể hiện những ý nghĩa khái quát trong một lượng câu chữ ít ỏi. Câu thơ đầu nói về quãng thời gian gần suốt cả cuộc đời xa quê và hé lộ tình cảm yêu quê hương của nhà thơ. Còn trong câu thơ thứ hai, nhà thơ dùng yếu tố thay đổi (mái tóc) để làm nổi bật yếu tố không thay đổi (tiếng nói quê hương). => Tác giả là một người yêu quê hương, luôn nghĩ về quê hương dù đã mấy chục năm trời xa cách.


Câu 3:

Tự sự: Câu 1

Miêu tả: Câu 2

Biểu cảm: Câu 1

Biểu cảm qua tự sự: Câu 1

Biểu cảm qua miêu tả: Câu 2


Câu 4:

Sự khác nhau về giọng điệu của hai câu trên và hai câu dưới:

Hai câu trên: là giọng điệu miêu tả, tự sự và có thoáng chút ngậm ngùi, tâm sự của người con xa quê lâu ngày mới được trở về.

Hai câu dưới: là giọng điệu hóm hỉnh, bi hài, thể hiện sự ngây thơ, hồn nhiên của trẻ thơ. Tác giả đã bị đẩy vào hoàn cảnh trớ trêu, bị gọi là khách ngay trên chính mảnh đất quê hương mình. => Cảm giác bơ vơ, lạc lõng khi trở về quê nhà không còn người thân thích, không một ai quen biết, câu hỏi hồn nhiên của đám trẻ khiến cho nhà thơ vừa vui vừa buồn.

Giọng thơ của hai câu dưới tuy có phần hóm hỉnh song cũng không giấu được nỗi buồn sâu kín bên trong. Cũng nhờ thế, người đọc có thể nhận ra cái tình đối với quê hương của tác giả thật tha thiết và sâu nặng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê" số 6

TÌM HIỂU CHUNG VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

1. Tác giả

- Hạ Tri Chương (659 - 744), tự Quý Chân, hiệu Tứ Minh cuồng khách, quê Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang).

- Ông đỗ tiến sĩ năm 695, sinh sống, học tập và làm quan trên 50 năm ở kinh đô Trường An, rất được Đường Huyền Tông vị nể.

- Lúc xin từ quan về quê làm đạo sĩ, vua có tặng thơ, thái tử và các quan đều đưa tiễn.

- Ông là bạn vong niên (bạn chơi với nhau không kể tuổi chênh lệch) của thi hào Lí Bạch, thích uống rượu, tính tình hào phóng

- Tác phẩm chính: Ông còn để lại 20 bài thơ, trong đó hai bài Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng nhất.


2. Tác phẩm

- Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê được Hạ Tri Chương sáng tác năm 744, lúc 86 tuổi và từ quan về quê sau trên 50 năm làm quan ở kinh đô Trường An.

- Nội dung: Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương ngậm ngùi mà sâu sắc của nhà thơ khi đặt chân trở về quê sau một thời gian dài xa quê.

- Thể thơ: nguyên tác - thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, bản dịch - lục bát.

- Bố cục: Chia làm 2 phần

+ Phần 1 (2 câu đầu): Tình cảm quê hương của tác giả

+ Phần 2 (2 câu sau): Tâm trạng của tác giả khi về quê hương


NỘI DUNG BÀI NGẪU NHIÊN VIẾT NHÂN BUỔI MỚI VỀ QUÊ

Phiên âm

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi

Hương âm vô cải, mấn mao trồi

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

Tiếu vấn khách lòng, hà xứ lai

- Hạ Tri Chương -

Dịch nghĩa

Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về

Giọng quê ko đổi, nhưng tóc mai đã rụng.

Trẻ con gặp mặt, ko quen biết

Cười hỏi; Khách ở nơi nào đến ?

Dịch thơ

Khi đi trẻ, lúc về già

Giọng quê không đổi, tóc đà khác bao

Trẻ con nhìn lạ không chào,

Hỏi rằng khách ở chốn nào tới đây

- Phạm Sĩ Vĩ dịch -


ĐỌC - HIỂU

Câu 1 - Trang 127 SGK

Qua tiêu đề bài thơ, có thể thấy sự biểu hiện tình quê hương ở bài thơ này có gì độc đáo ?

(Gợi ý: So sánh với tình huống thể hiện tình quê hương trong bài Tĩnh dạ tứ)

Trả lời:

Qua tiêu đề bài thơ, có thể thấy sự biểu hiện tình quê hương ở bài thơ có sự độc đáo là:

Nếu đọc nhan đề ta có thể nhận thấy tác giả lúc đầu không có ý định làm thơ khi vừa đặt chân về quê hương nhưng khi về đến nơi, tác giả bị coi là khách nên tác giả mới làm thơ. Vì vậy, bài thơ đã thể hiện tình yêu một cách rất khác đó là: tình yêu quê hương thể hiện ngay khi mới đặt chân về đến quê.

⟹ Tình yêu quê hương sâu nặng, luôn thường trực trong lòng tác giả nên ở bất cứ tình huống nào, nơi đâu thì nó cũng có thể bộc lộ được.


Câu 2 - Trang 127 SGK

Chứng minh hai câu đầu đã dùng phép đối trong câu (còn gọi là tiểu đối, tự đối). Nêu tác dụng của việc dùng phép đối ấy.

Lưu ý: Ở thơ ngũ ngôn và thất ngôn, số chữ của hai vế đối nhau trong câu không bằng nhau, tuy vậy, xét về mặt từ loại và cú pháp, vẫn có thể đối rất chỉnh.

Trả lời:

Hai câu đầu đã sử dụng phép đối trong câu (tiểu đối) khá chuẩn và chính xác:

Thiếu tiểu li gia – lão đại hồi, hương âm vô cải – mấn mao tồi. Mỗi câu có 2 vế, mỗi bộ phận trong mỗi vế đối nhau rất chỉnh.

+ Li gia (rời nhà) đối với đại hồi (trở về).

+ Hương âm (giọng quê hương) đối với mấn mao (tóc mai).

=> Đối chỉnh cả lời và ý

+ Thiếu tiểu (lúc nhỏ) đối với lão (về già)

+ Vô cải (không thay đổi) đối với tồi (thay đổi)

=> Ý rất chỉnh, đọc lên rất hài hòa.

* Tác dụng của việc dùng phép đối đó là: đã cho ta thấy được ý nghĩa của cuộc đời xa quê của tác giả.


Câu 3 - Trang 127 SGK

Kẻ lại bảng sau vào vở và đánh dấu x vào ô mà em cho là hợp lí:

Phương thức biểu đạt
Tự sự:
Miêu tả:
Biểu cảm:
Biểu cảm qua miêu tả:
Biểu cảm qua tự sự:
Sau khi đánh dấu, có thể dùng lời để giải thích thêm; cũng có thể dùng cách giải thích khác không có trong các ô.

Trả lời:

- Câu 2 là câu miêu tả: về sự thay đổi của mái tóc nhưng giọng quê, tình cảm sâu nặng với quê vẫn vậy.

- Câu 1 là kể khái quát, ngắn gọn quãng đời xa quê, làm quan nổi bật sự thay đổi vóc dáng, tuổi tác, hé lộ những tình cảm quê hương của nhà thơ. Đó là cảm xúc buồn buồn, bồi hồi trước sự chảy trôi của thời gian.

- Ta có bảng sau:

Phương thức biểu đạt

Tự sự: Câu 1
Miêu tả: Câu 2
Biểu cảm: Câu 1
Biểu cảm qua miêu tả: Câu 2
Biểu cảm qua tự sự: Câu 2


Câu 4 - Trang 127 SGK

Sự biểu hiện của tình quê hương ở hai câu trên và hai câu dưới có gì khác nhau về giọng điệu ?

(Gợi ý: Phân tích xem vì sao chỉ có nhi đồng xuất hiện và sự xuất hiện đó cùng tiếng cười, câu hỏi hồn nhiên, thơ ngây của các em có làm cho tác giả vui lên không.)

Trả lời:

- Giọng điệu của hai câu đầu tuy nói về sự thay đổi của thời gian và của con người tuy có vẻ khách quan nhưng có gì đó phảng phất buồn.

- Hai câu sau thiên về tự sự và biểu cảm khi có sự xuất hiện của những đứa trẻ nhỏ. Đứa trẻ đó ngơ ngác không biết là ai, chúng coi ông như là một người khách lạ. Xa quê hương của mình và giờ trở về không ai nhận ra mình, tác giả đã sử dụng giọng điệu có chút hóm hỉnh nhưng chứa đựng nỗi buồn trong lòng.


LUYỆN TẬP

Câu hỏi: Căn cứ vào bản dịch nghĩa bài Hồi hương ngẫu thư và những điều cảm nhận được qua việc học bài thơ, hãy so sánh hai bản dịch thơ của Phạm Sĩ Vĩ và Trần Trọng San.

Trả lời:

So sánh hai bản dịch thơ của Phạm Sĩ Vĩ và Trần Trọng San:

- Giống nhau: đều sử dụng thể thơ lục bát và dịch rất sát nghĩa.

- Khác nhau:

+ Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ không có tiếng cười tếu của trẻ em.

+ Bản dịch của Trần Trọng San các chữ cuối không vần với nhau và âm điệu câu cuối không được mềm mại.


TỔNG KẾT

Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê biểu hiện một cách chân thực mà sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê" số 1

I. Đôi nét về tác giả Hạ Tri Chương
- Hạ Tri Chương (659-744), tự Quý Chân, hiệu Tứ Minh cuồng khách, quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc)
- Ông đỗ tiến sĩ năm 695, sinh sống, học tập và làm quan trên 50 năm ở kinh đô Trường An, rất được Đường Huyền Tông vị nể. Sau đó, ông xin từ quan về làm đạo sĩ
- Ông là bạn vong niên của thi hào Lí Bạch
- Ông thích uống rượu, tính tình hào phóng, ông còn để lại 20 bài thơ

II. Đôi nét về tác phẩm Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê
1. Hoàn cảnh ra đời
Bài thơ được viết nhân lần tác giả tình cờ về thăm quê vào năm 744, khi ông đã 86 tuổi
2. Bố cục: 2 phần
- Phần 1 (hai câu thơ đầu): Tình yêu quê hương của tác giả
- Phần 2 (hai câu còn lại): Tâm trạng của tác giả khi về thăm quê
3. Giá trị nội dung
Bài thơ thể hiện một cách chân thực mà sâu sắc, hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ
4. Giá trị nghệ thuật
- Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt
- Giọng thơ hóm hỉnh, ngậm ngùi
- Phéo đối
- Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và biểu cảm


III. Trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 127 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Nhân vật trữ tình- tác giả trở thành khách trên chính mảnh đất quê hương mình ngay trong ngày đầu tiên trở về

→ Đây là lý do chính để tác giả sáng tác bài thơ

- Khác với Lý Bạch, xa quê, thương nhớ quê cũ nên tức cảnh sinh tình


Câu 2 (trang 127 sgk ngữ văn 7 tập 1)

- Trong bài có sử dụng hình thức tiểu đối:

+ Thiếu tiểu li gia >< Lão đại hồi

+ Hương âm vô cải >< Mấn mao tồi

→ Đối giữa các vế trong một câu, mỗi vế nhỏ có hai bộ phận đối nhau rất chỉnh, hài hòa

- Thông qua hình thức tiểu đối này nhà thơ tổng quát được sự thật ngậm ngùi, suốt cuộc đời tha hương, ra đi từ khi còn trẻ trở về thì đã già. Tuy vậy giọng quê vẫn không thay đổi, vẫn nguyên vẹn

- Hương âm vô cải: Giọng quê không đổi nói tới tấm lòng không thay đổi, nói tới phần tinh tế sâu thẳm trong con người không thay đổi.

→ Hồn quê, tình yêu quê hương tồn tại vĩnh cửu trong tâm trí nhà thơ.


Câu 3 (trang 127 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Phương thức biểu đạt
Tự sự: Câu 1
Miêu tả: Câu 2
Biểu cảm: Câu 1
Biểu cảm qua miêu tả: Câu 1
Biểu cảm qua tự sự: Câu 2

Câu 4 (trang 127 sgk ngữ văn 7 tập 1)

- Sự khác nhau cơ bản về giọng điệu biểu đạt ở câu thơ đầu và cuối

+ Hai câu thơ đầu: giọng tự sự xen lẫn chút ngậm ngùi, chua xót của người con xa quê lâu ngày trở lại: “ Trẻ đi, già trở lại nhà/ Giọng quê không đổi sương pha mái đầu.

+ Hai câu dưới: giọng bi hài, hóm hỉnh: sự hồn nhiên ngây thơ của trẻ tạo ra hoàn cảnh trớ trêu (khách ngay trên chính quê hương của mình)

→ Cảm giác xa lạ, lạc lõng ngay trên chính mảnh đất quê hương không còn người thân thích, quen biết khiến nhân vật trữ tình ngậm ngùi, chua xót


Luyện tập

Hai bản dịch thơ của Phạm Sĩ Vĩ và Trần Trọng San

- Giống nhau: Hai bản dịch đều sử dụng thể thơ lục bát, gần sát với bản dịch nghĩa

- Khác nhau: Bản dịch của Phạm Sĩ Vĩ không xuất hiện “tiếu vấn” – Hình ảnh trẻ con cười (hỏi)

+ Bản dịch của Trần Trọng San phần cuối không được mềm, có phần hơi bị thiếu ý và hụt hẫng so với bản gốc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bình luận

Có Thể Bạn Quan Tâm ?