Top 8 Bài văn cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" của Hồ Chí Minh (lớp 11) hay nhất

"Chiều tối" của Hồ Chí Minh không chỉ dựng lên bức tranh thiên nhiên đầy sinh động lúc chiều tà với cánh chim mỏi mệt, đám mây cô đơn mà còn khéo léo thể hiện những cảm xúc, rung động, ý chí quyết tâm của nhân vật trữ tình. Các em hãy cùng tìm hiểu vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình qua bài "Cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong bài thơ mà Toplist đã tổng hợp dưới đây để tham khảo cách làm bài.

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 6

Năm 1942, Hồ Chí Minh trên con đường hoạt động cách mạng bị quân Tưởng Giới Thạch bắt ở Trung Quốc và rơi vào cảnh ngộ tù đày gian lao khổ ải, trong lúc phong trào cách mạng ở nước ta đang rất cần sự có mặt của Người. "Nhật kí trong tù" được viết trong một tình thế đặc biệt: "Ngâm thơ ta vốn không ham - Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây". Một tập nhật kí chỉ nhằm ghi lại một cách chân thật những gì tác giả nếm trải ở chốn lao tù, vậy mà qua Nhật kí trong tù, chúng ta thấy hiện lên hình tượng nhân vật trữ tình Hồ Chí Minh - một tâm hồn lớn, một trí tuệ lớn, một dũng khí lớn.Trong đó bài thơ "Chiều tối" đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả bởi sự hấp dẫn từ vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình.


Tâm hồn lớn: đó là một trái tim tràn đầy tình yêu thương và nhạy cảm trước thiên nhiên, cuộc sống. Một tâm hồn luôn rộng mở để đón nhận vẻ đẹp của thiên nhiên: dù ở bất kì hoàn cảnh nào (trong ngục, trên đường chuyển lao), dù thể xác luôn bị đày đoạ, Người vẫn phát hiện và rung động trước cái đẹp (một làn hương hoa bay vào nhà ngục, một ánh trăng lọt qua khe cửa buồng giam, một buổi chiều nơi núi rừng với "Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng",...) bằng trái tim đồng điệu của một thi nhân.


Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.

Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng


Nhưng hơn hết, đó là một trái tim đồng cảm, yêu thương mọi thân phận, mọi cảnh ngộ; đồng cảm với mọi nỗi buồn; trân trọng mọi niềm vui và lòng tốt của con người (từ một tiếng khóc trẻ thơ, một cuộc gặp gỡ "Anh đứng trong cửa sắt - Em đứng ngoài cửa sắt" đến hình ảnh một cô thiếu nữ xay ngô bên bếp lửa, một cảnh "Làng xóm ven sông đông đúc thế - Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh", một Trưởng ban họ Mạc "Chẳng dùng quyền thế, chỉ dùng ân",...). Trong bất kì hoàn cảnh nào, Người đều quên đi nỗi buồn, nỗi đau của riêng mình để chia sẻ hết mình nỗi buồn và niềm vui của con người.


Trí tuệ lớn: đó là một trí tuệ sáng suốt, thể hiện ở tầm nhìn sắc sảo, sâu rộng trước những biểu hiện của cuộc sống xung quanh: Người đã nhận ra hiện thực xã hội Trung Hoa với tất cả mặt trái của nó và đã thể hiện bằng một ngòi bút châm biếm nhẹ nhàng mà sâu cay (một xã hội Lai Tân "vẫn thái bình” mà mọi guồng quay đều đảo ngược; một người phụ nữ có chồng trốn đi lính đã được "Quan trên xót nỗi em cô quạnh - Nên lại mời em tạm ở tù";...).


Người đã nhận ra những quy luật sâu sắc từ những biểu hiện thường nhật của cuộc sống (Trong ngục giờ đây còn tối mịt – Ánh hồng trước mặt đã bừng soi; Hết mưa là nắng hửng lên thôi; Hết khổ lá vui vốn lẽ đời,…), để trong cảnh ngục tù, Người vẫn suy nghĩ vẽ cách mạng, về trách nhiệm của một thi nhân - chiến sĩ: "Nhà thơ cũng phải biết xung phong",..


Dũng khí lớn: Hồ Chí Minh có một sức mạnh tinh thần lớn lao. Người luôn lạc quan trước mọi cảnh ngộ chốn lao tù. Người cảm thấy mình dù bị xiềng xích, dây trói mà vẫn như "khanh tướng vẻ ung dung", cảnh ghẻ lở mà "Gảy đàn, trong ngục thảy tri âm",... Không một trở lực nào ngăn cản được trái tim và khối óc của Người. Hơn mười ba tháng bị giam giữ, đày đoạ chốn ngục tù, Người vẫn nghĩ suy và cống hiến cho cách mạng, vẫn ung dung tự tại, làm chủ bản thân mình.


Một tâm hồn lớn, một trí tuệ lớn, một dũng khí lớn đã làm nên hình tượng một con người luôn tự thấy mình là "khách tự do" giữa chốn lao tù. Một con người vừa ung dung tự tại như một bậc hiền triết lại vừa chủ động, tự tin, phóng khoáng giữa thiên nhiên, trời đất với một tấm lòng, một trái tim rộng mở "Ôm cả non sông, mọi kiếp người" (Tố Hữu - Bác ơi!).

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 6
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 6

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 5

Nhật kí trong tù (1942 - 1943) tỏa sáng tâm hồn cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh. Tâm hồn tha thiết yêu con người, đất nước bao nhiêu thì cũng thiết tha yêu thiên nhiên cuộc sống bấy nhiêu. Tâm hồn ấy trong những tháng ngày tù đày tăm tối luôn hướng về tự do, ánh sáng, sự sống và tương lai. Trên đường bị giải đi trong chiều buồn ở tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc lòng nhà thơ - người tù bỗng ấm lên và phấn chấn vui vẻ trước thiên nhiên đẹp và hình ảnh cuộc sống bình dị ấm cúng. Cảm xúc nhà thơ viết bài thơ Mộ. Bài thơ được sáng tác cuối thu 1942.


Bài thơ có hai bức tranh rõ nét: hai câu đầu là cảnh hoàng hôn, hai câu sau là cảnh sinh hoạt. Trên con đường thanh vắng, thiên nhiên như một hồng thơ đang đón đợi:


Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.


Bức tranh hoàng hôn đã được xác định thời gian lúc chiều đang trôi chậm và không gian là bầu trời bao la lúc ánh nắng chỉ còn le lói rồi nhường chỗ cho bóng tối lan dần. Phía xa là cánh chim bay mải miết về tổ, trên cao là chòm mây trắng lẻ loi trôi lơ lửng. Thiên nhiên được miêu tả với vài nét chấm phá nhưng đã gợi ra khung cảnh bát ngát, trong sáng êm đềm của hoàng hôn vùng rừng núi. Thiên nhiên có vẻ đẹp trong trẻo, thơ mộng nhưng quạnh quẽ đượm buồn. Vẻ đẹp ấy rung cảm bởi tâm hồn xao xuyến yêu thương của Bác.


Hai câu thơ sử dụng bút pháp chấm phá miêu tả, nhất là cách sử dụng thi liệu mang đậm sắc cổ điển: lấy cánh chim biểu tượng cho hoàng hôn, còn hoàng hôn thì biểu tượng cho nỗi buồn, nhất là đối với người tha hương càng gợi thêm nỗi buồn xa xứ, lòng thương nhớ cố hương, Thôi Hiệu viết:


Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

(Hoàng Hạc lâu)


Và người đi trên đường xa trong cảnh hoàng hôn ấy dễ cảm thấy cô đơn và chạnh lòng. Bài thơ có cách cảm thụ thế giới quen thuộc của thơ xưa, thiên nhiên như đồng cảm với tâm sự của con người. Hình ảnh con chim sau một ngày kiếm ăn vất vả như ẩn dụ hình ảnh người tù mỏi mệt sau một ngày đường bị áp giải. Chòm mây buồn như ẩn dụ tâm trạng cô đơn buồn bã của tù nhân. Tứ thơ cổ điển mà vẫn hiện đại, vì thiên nhiên với con người có sự đồng cảm chứ không đồng nhất. Thiên nhiên mệt mỏi còn có chốn nghỉ, cô đơn mà được tự do, còn người tù không biết đi về đâu và mất tự do không biết đến bao giờ. Nên nhà thơ đang khao khát tự do và một mái ấm gia đình. Tả cảnh mà chứa tình, hàm ý sâu xa, đó là vẻ đẹp hàm súc dư ba của thơ cổ điển.


Tóm lại, hai câu thơ gợi tả cảnh thiên nhiên đẹp mà buồn, vì ‘‘người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Buồn vì xa Tổ quốc, buồn vì bị bắt tù oan, buồn vì mất tự do không biết đến bao giờ. Nhưng trước vẻ đẹp của cảnh ấy lòng người ít nhiều cũng tìm được niềm vui thư thái.


Điểm đặc sắc nghệ thuật của bài thơ là chỉ miêu tả không gian với hai hình ảnh đang vận động: cánh chim bay và chòm mây trôi nhưng diễn tả được sự luân chuyển của thời gian: chiều đang trôi chầm chậm về đêm. Không gian thay đổi, khung cảnh sinh hoạt của một bản làng miền núi được mở ra một cách tự nhiên:


Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng


Hai câu thơ sử dụng bút pháp điểm nhãn của thơ cổ điển, nhưng hình ảnh thơ bình dị, chân thực lại được ghi bởi bút pháp hiện thực. Hình ảnh cô gái mải miết xay ngô và xay xong bên lò lửa rực hồng gợi bức tranh đời sống có vẻ đẹp bình dị, ấm cúng, yên vui. Riêng đối với người tù mệt mỏi, mất tự do thì cảnh ấy trở nên vô cùng hấp dẫn, quý giá, thiêng liêng, vì nó lệ thuộc về thế giới tự do. Chỉ có ai đã từng trải qua những cánh đời đau khổ đầy giông bão mới thấy hết giá trị của từng phút giây cảnh đời bình yên. Do đó bức tranh đời sống trở thành nguồn thơ dạt dào, thể hiện niềm xao xuyến, sự rung động mãnh liệt hồn thơ.


Lò lửa hồng là hình ảnh nổi bật trung tâm của bức tranh thơ, làm nổi rõ hình ảnh của cô gái. Nó sưởi ấm bức tranh thiên nhiên hiu hắt. lạnh lẽo và sưởi ấm tâm hồn nhà thơ. Vậy là, hình ảnh cuộc sống con người là điểm hội tụ vẻ đẹp bài thơ, tỏa sáng ánh và hơi ấm xung quanh. Hình ảnh lò lửa hừng hực đặt bên cạnh cô gái tạo ra vẻ đẹp trẻ trung, đầy sức sống của cảnh thơ. Hoàng Trung Thông cho rằng chữ hồng là nhãn tự của bài thơ là vì vậy. Ý thơ cuối khỏe, đẹp bộc lộ niềm vui, lòng yêu đời, yêu cuộc sống. tinh thần lạc quan của Bác.


Như vậy hai câu thơ là sự quan sát của người đi đường nhưng là cái nhìn của người đang khao khát tìm về cuộc sống bình yên giản dị. Thế nên khi bắt gặp hình ảnh cuộc sống con người giữa miền sơn cước, tình yêu và niềm vui đã tràn ngập cõi lòng. Không phải ngoại cảnh tác động đến con người mà chính cảm xúc của con người trùm lên ngoại cảnh. Thiên nhiên đẹp nhưng chưa đủ mang đến niềm vui. Cuộc sống đẹp đã mang đến niềm vui chan chứa. Điều ấy đã thể hiện phẩm chất nhân văn cao đẹp của nhà thơ.


Nguyên tác chữ Hán không có từ tối, bản dịch thơ thừa từ. Không miêu tả đêm tối mà vẫn cảm nhận được là nhờ ánh lửa lò than. Lấy ánh sáng để làm nổi bóng tối, nghệ thuật là ở đó.


Hình tượng thơ vận động rất tự nhiên, bất ngờ, khỏe khoắn: từ lạnh lẽo, hắt hiu đến ấm nóng, sum vầy, từ tối đến sáng, từ buồn sang vui... đó là điểm đặc sắc trong phong cách thơ của Bác, thể hiện niềm tin yêu cuộc đời dù đang ở trong những tháng ngày đau khổ nhất.

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 5
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 5

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 1

Trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của tác giả Hồ Chí Minh, bài thơ “Chiều tối” đã thể hiện được nổi bật và sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của tác giả. Đây là bài thơ số 31 trên tổng số 134 bài của “Nhật kí trong tù”, là một trong năm bài thơ được Người sáng tác trên đường chuyển lao từ nhà lao Tĩnh Tây sang nhà lao Thiên Bảo. Qua bài thơ, vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ đã được khắc họa rõ nét qua cách cảm nhận về thiên nhiên, cũng như ý nghĩa của toàn bộ bài thơ.


Hồ Chí Minh là một con người yêu đời, yêu thiên nhiên, nhạy cảm trước những biến thái tinh vi của tạo vật:


“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không”

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)


Tác giả đã gợi ra thời gian vào buổi chiều tà. Thời điểm buổi chiều tối thường gợi buồn, nhất là trong hoàn cảnh Bác đang ở trên đất khách quê người trong cảnh mệt mỏi, lê bước trong chặng đường chuyển lao. Buổi chiều là quãng thời gian gợi cảm xúc của con người nhất trong một ngày, nó gợi sâu sắc nỗi nhớ về sự đoàn tụ. Bác cảm nhận về cánh chim và chòm mây. Độc giả đã bắt gặp rất nhiều những bài thơ viết về cánh chim, những hình ảnh cánh chim trong bài thơ này lại là cánh chim mệt mỏi.


Bên cạnh đó, hình ảnh chòm mây như chính là hình ảnh của tác giả và niềm khao khát tự do của người chiến sĩ cộng sản. Hai câu thơ trên gợi ra cho người đọc hình ảnh một người chiến sĩ, với tư thế ung dung, hòa hợp với thiên nhiên, thể hiện niềm khao khát tự do của con người. Trong hoàn cảnh bị trói buộc về mặt thể chất, nhưng tác giả vẫn có sự giải thoát về mặt tinh thần. Bác vẫn có một tinh thần lạc quan, vẫn có những quan sát, cảm nhận tinh tế đối với sự chuyển động của cảnh vật thiên nhiên. Hồ Chí Minh là một người mang trong mình tính yêu thương sâu sắc, dù trong bất kì hoàn cảnh nào cũng luôn có sự đồng cảm:


“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

(Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết, lò than đã rực hồng)


Bác Hồ thể hiện sự chia sẻ nỗi vất vả của cô gái xay ngô nơi xóm núi, vui với niềm vui lao động của cô. Nếu như trong các bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Thơ Đường, có xuất hiện hình ảnh những người phụ nữ, nhưng họ thường xuất hiện ở trong sự khuê các. Còn Hồ Chí Minh, Người lại nêu ra hình ảnh người phụ nữ trong lao động một cách thật tự nhiên.


Bên cạnh đó, độc giả còn thấy được vẻ đẹp của niềm lạc quan bất diệt xuyên suốt cả bài thơ. Trong một bài thơ, từ hình tượng thơ ta có thể nhận ra tư tưởng của tác giả đều có sự vận động nhất quán, hướng tới sự sống tương lai. Tâm trạng có sự vận động từ buồn đến vui, từ cô đơn, lẻ loi đến ấm áp. Hình ảnh cánh chim đượm buồn nhưng là cánh chim bay về tổ, gợi một chút gì đó ấm áp của sự đoàn tụ. Chòm mây cô đơn gợi nỗi buồn lẻ loi, nhưng chòm mây ấy lại “mạn mạn độ thiên không” gợi một tâm hồn khoáng đạt, một phong thái ung dung, tự tại, làm chủ mình trong mọi hoàn cảnh.


Từ hình ảnh cánh chim và chòm mây vận động, chiếc cối xay ngô của cô gái vùng sơn cước cũng vận động. Thời gian trôi dần theo cánh chim và chòm mây theo những vòng xoay của cối xay ngô, quay mãi, và đến khi “bao túc ma hoàn” thì “lô dĩ hồng”. Bình luận về chữ “hồng”, đây được coi là nhãn tự của bài thơ, nó nằm ở cuối bài nhưng lại gánh được 24 chữ kia, và mang lại thần sắc cho bài thơ.


Qua bài thơ “Chiều tối”, ta cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản, giàu tình yêu thương, luôn nâng niu mọi sự sống trên đời, lạc quan hướng về ánh sáng.

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 1
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 1

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 3

Nhắc đến thơ Hồ Chí Minh có lẽ ta sẽ nghĩ ngay đến những vần thơ đầy trăng của Bác nhưng đọc “Chiều tối” mới thấy, Bác không chỉ viết hay về những buổi đêm ngập tràn ánh trăng mà, dưới tư cách là một nhà thơ, Bác còn mang một phong cách “thơ chiều” vô cùng riêng biệt. “Chiều tối” là bài thơ thứ 31 trong tập “Nhật kí trong tù”, bài thơ ghi lại cảm xúc thiên nhiên và cuộc sống lúc ngày tàn của Hồ Chí Minh trên đường chuyển lao vào khoảng cuối thu năm 1942, hình ảnh người tù “tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang xiềng xích” đã để cảm xúc trải ra cùng không gian bao la, làm nên những vần thơ tuyệt tác vừa cổ kính, vừa trữ tình. Qua bài thơ, ta cảm nhận được vẻ đẹp của Hồ Chí Minh với một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, con người cùng với ý chí kiên cường và tinh thần thép của người Cộng sản.


Mỗi bài thơ trong “Nhật kí trong tù” lại là một nét phác họa vẻ đẹp con người và tinh thần của Hồ Chí Minh: vẻ đẹp của trái tim, khối óc, vẻ đẹp của tinh thần, ý chí, nghị lực, của lòng khiêm tốn, đức hi sinh cao cả... Được viết vào một hoàn cảnh đặc biệt: Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ, bài thơ là sự tỏa sáng của tâm hồn, nghị lực và trí tuệ của Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh ngục tù.


“Chiều tối”, đúng như tiêu đề của nó, là một bức tranh thiên nhiên về cảnh chiều muộn ở nơi rừng núi được người tù Hồ Chí Minh ghi lại trên hành trình chuyển lao. Vì lẽ đó, vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh thể hiện trong bài thơ trước hết là vẻ đẹp của một tâm hồn nghệ sĩ với những rung cảm tinh tế trước vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống của con người:


“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;”


Bác nâng niu, trân trọng biểu hiện của sự sống, tinh hoa của thiên nhiên, bởi vậy, ta luôn cảm nhận được những hình ảnh thiên nhiên lúc nào cũng chiếm vị trí nổi bật trong thơ Bác. Thiên nhiên mở ra trước mắt người đọc với những hình ảnh quen thuộc của thi ca cổ điển: cánh chim - chòm mây - bầu trời cùng với chút ánh sáng cuối cùng còn sót lại của một ngày tàn chỉ có thể nhìn thấy nơi đỉnh trời đem lại cảm nhân về một không gian giống như các nhà thơ xưa, tạo ra sự đối lập giữa cánh chim, chòm mây với bầu trời rộng lớn.


Dường như không gian được tạo ra từ sự đối lập như vậy cũng đã gợi sẵn một nỗi buồn trong cảnh, và ngay trong cách nhìn cảnh ta cảm thấy tâm hồn Hồ Chí Minh đã thực sự hài hòa với thiên nhiên. Một cách rất tự nhiên, con mắt nhà thơ phải ngước lên cao để nhận ra một cánh chim mỏi mệt đi tìm chốn ngủ và một chòm mây cô đơn lặng lẽ trôi, nhìn cảnh như thế, dường như Bác đã xóa nhòa đi cái ranh giới giữa người tù và du khách tự do, để tâm hồn mình gắn liền với thiên nhiên, dễ dàng hòa nhập, quyến luyến. Có ai ngờ, ngay cả trong hoàn cảnh bị áp giải mà thiên nhiên lại vẫn hiện lên trong thơ Bác một cách tuyệt đẹp như thế. Không chỉ thiên nhiên mà cho dù là hoàn cảnh nào Bác cũng không quên nghĩ đến con người:


“Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết, lò than đã rực hồng.”


Cô thiếu nữ mải miết xay ngô, ngọn lửa hồng reo vui trong bếp lửa gia đình, lòng Bác như cùng hòa với khung cảnh lao động bình dị ấy, như đang reo vui cùng với âm thanh than hồng cháy tí tách. Hai câu thơ sau còn thể hiện được cảm nhận tinh tế của Bác trước hành động của con người trong không gian chiều tối. Không giống như trong thơ cổ, con người không phải chịu sự chi phối của cảnh vật mà lại đem sức sống truyền vào thiên nhiên, khiến khung cảnh chiều tối vốn man mác buồn lại bỗng tràn ngập sinh khí, sự ấm cúng cùng với nhịp sống, lao động của con người.


Chính vì tấm lòng Bác luôn hướng về con người, yêu mến con người nên ở đâu có sự xuất hiện của con người là Người lại tìm thấy được niềm vui. Bài thơ không khép lại cảm giác về bóng đêm đang dần xuống mà lại chan hòa ánh sáng, ánh sáng tạo nên cuộc sống đời thường giản dị, thân thuộc. Ánh sáng và niềm vui của sự sống con người hiện lên ở trung tâm của bức tranh đã tỏa hơi ấm ra xung quanh, xua tan đi cái cô quạnh, cái mệt mỏi, cái lụn tắt của cảnh chiều tối nơi núi rừng, khiến người tù cũng thoát khỏi xiềng xích mà quyện mình với cuộc sống hạnh phúc của con người nơi xóm núi nhỏ.


Bên cạnh tình yêu, niềm say mê đối với thiên nhiên, con người, ở bài thơ, ta còn thấy nổi bật lên ý chí kiên cường, tinh thần sắt đá của Hồ Chí Minh.Ta bắt gặp một thoáng buồn bã, cô đơn, ảm đạm “rất người” của Bác khi nhìn vào hình ảnh “quyện điểu” và “cô vân”, thế nhưng, trước ngọn lửa hồng, Bác quên đi việc mình vẫn đang phải bước đi trên con đường đầy ải mà để lòng mình reo vui cùng ngọn lửa, để hình ảnh tỏa ấm trang thơ xua tan cái lạnh lẽo của lòng người và cảnh vật. Với lộ trình “năm mươi ba cây số một ngày”, nơi dừng chân có thể là một nhà lao mới hay một nhà kho ẩm ướt, nhưng thật kì diệu là trong hoàn cảnh như vậy, Người vẫn làm thơ, vẫn để cho tâm hồn mình bay bổng lên với một cánh chim, một chòm mây, một làn hương rừng, một cảnh “làng xóm ven sông đông đúc thế”…Thử hỏi, nếu không có một tinh thần thép, một bản lĩnh thép, thơ của người làm sao có thể “bay cánh hạc ung dung” như vậy. Đó thực sự là một cuộc vượt ngục tinh thần của Bác, Người đã hoàn toàn chủ động trước mọi hoàn cảnh, đó chính là vẻ đẹp của ý chí, nghị lực, là tinh thần thép của người Cộng sản Hồ Chí Minh.


Đan xen giữa những câu thơ như một mạch cảm xúc ngầm chính là khát vọng thầm kín và đầy tính nhân văn của Bác. Người tù Cách mạng dù kiên cường, dũng cảm đến đâu cũng luôn mơ ước, khát khao về một tổ ấm, quanh quần bên bếp lửa gia đình. Hình ảnh cánh chim về rừng như đang tìm về tổ ấm của mình, cô thôn nữ xay ngô bên lò than rực hồng, tất cả làm hiện lên khung cảnh bình dị mà ấm cúng nơi quê hương, nơi mái nhà sum vầy, đoàn tụ. Nghĩ về những hình ảnh đời thường, yên bình ấy, ta có thể thấy được chất “người” vô cùng nhân bản trong Bác.


Trong thơ của Hồ Chí Minh, từ tư tưởng đến hình tượng nghệ thuật đều vận động một cách rất tự nhiên, nhất quán, hướng về sự sống, về ánh sáng và tương lai. Ta thấy được một tâm hồn lạc quan, niềm tin mạnh mẽ vào Cách mạng, vào một tương lai tươi sáng, “Chiều tối” cũng không nằm ngoài quy luật đó:


“Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết lò than đã rực hồng.”


Câu thơ kết thúc bằng ngọn lửa hồng và cảnh bình minh mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan. Có thể nói , chữ “hồng” ở cuối bài thơ đã tạo ra một luồng sáng chói rọi ngược trở lại làm sáng rực bài thơ, làm mất đi sự mệt mỏi, uể oải, sự vội vã, nặng nề, cực nhọc nhất của cuộc đời. Những hình ảnh đối lập giữa niềm vui và nỗi cô đơn, buồn bã, giữa chiều tối và bình minh, mặt trời hồng đã thể hiện một phong cách thơ Hồ Chí Minh đầy tinh tế và nhạy cảm, một sự kết hợp rất tự nhiên giữa màu sắc cổ điển và tinh thần thời đại.


Chiều tối giống như bao bài thơ khác, thật nhỏ nhắn trong bố cục nhưng từng câu từng chữ đều như một nét phác họa bức chân dung con người, tinh thần Hồ Chí Minh: một tâm hồn nghệ sĩ dạt dào tình yêu với thiên nhiên, con người; một ý chí sắt đá vượt lên mọi hoàn cảnh, một tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng. Bức chân dung ấy là sự hòa hợp giữa chất thép và chất tình, thi sĩ và chiến sĩ, như trong bài “Đọc thơ Bác”, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết: “Vần thơ của Bác, vần thơ thép/ Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 3
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 3

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 2

Ngoài việc là một nhà chính trị, quân sự tài ba, một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Hồ Chí Minh còn được biết đến với vai trò là một tác gia lớn có nhiều đóng góp trong nền văn học Việt Nam hiện đại ở nhiều thể loại khác nhau. Có thể thấy rằng sự nghiệp sáng tác phong phú của Người luôn song hành cùng với sự nghiệp cách mạng lắm vẻ vang, trong mỗi một hoàn cảnh khác nhau thì các tác phẩm của Người lại có một vai trò, vị trí đặc biệt không chỉ thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người chiến sĩ mà còn có vai trò phục vụ, ủng hộ, là một loại vũ khí sắc bén có nhiều công lao trong công cuộc giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh.


Trong hầu hết các sáng tác ở nhiều thể loại của mình, có lẽ rằng ở mảng thơ ca chúng ta mới có cơ hội được nhìn rõ hơn cả những vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng, không chỉ ở tư tưởng chính trị, đời sống chiến đấu mà còn là vẻ đẹp của Người trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, trong mối giao hòa với thiên nhiên, con người. Đặc biệt hơn cả ta càng thấy rõ hơn được vẻ đẹp của một tâm hồn lạc quan, vui vẻ, tư thái ung dung, bình tĩnh của Hồ Chí Minh trước những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Chiều tối (Mộ) chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất thể hiện điều này. Tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ không qua những xúc cảm nội tâm trực tiếp mà thông qua những cảm nhận hình ảnh, cảnh vật khách quan của Hồ Chí Minh, rất tiêu biểu cho phong cách thơ trữ tình của Người.


Chiều tối (Mộ) là một bài thơ có hoàn cảnh ra đời khá đặc biệt. Bài thơ nằm ở vị trí số 31 trong tổng số 131 bài của tập thơ Nhật ký trong tù, được Bác sáng tác vào khoảng cuối mùa thu năm 1942, trên trường chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo (Trung Quốc). Trước thực cạnh một buổi chiều tối, sau khi trải qua một chuyến đi dài đầy gian lao, vất vả, nhưng phía trước chờ đợi người chiến sĩ cách mạng là một buổi tối khốn khổ trong gian nhà chật hẹp, có thể nói rằng nỗi đày đọa ban ngày chưa kịp tàn, thì một trận đày đọa ban đêm lại chuẩn bị ập tới. Mà theo Bác hóm hỉnh ví rằng "Được cùm chân mới yên bề ngủ - Không được cùm chân biết ngủ đâu". Tuy nhiên tâm hồn của người chiến sĩ - thi sĩ không vì vậy mà trở nên ảm đạm, ủ rũ, Chiều tối ra đời trong hoàn cảnh ấy chỉ mang một sắc thái ung dung, vui vẻ, lạc quan luôn hướng về sự sống và ánh sáng. Cũng như bộc lộ tấm lòng yêu thiên nhiên, con người, tấm lòng tha thiết của Hồ Chí Minh với chặng đường cách mạng lắm gian lao nhưng cũng nhiều hy vọng tốt đẹp của mình.


Tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ một cách gián tiếp thông qua ánh nhìn trực quan của tác giả với cảnh vật thiên nhiên.


"Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không"

Dịch thơ:

"Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không"


Trong một buổi chiều nhá nhem, cũng là lúc những khốn khổ đày ải ban ngày đang đi dần vào hồi kết, có lẽ rằng hơn ai hết, người tù cách mạng chính là người thấm thía nhất cái nỗi mệt mỏi lúc cuối ngày, sau khi đã mang gông cùm, đi bộ suốt một quãng đường toàn rừng núi. Lúc này đây, trong một giây phút ngắn ngủi Người đã ngước lên bầu trời cao rộng thấy cánh chim bay ngang trời, cùng với những đám mây lặng lẽ trôi. Chỉ bằng hai điểm chấm phá nhẹ nhàng, Người đã gợi ra một khung cảnh chiều tối có phần vắng vẻ, đìu hiu.


Chất cổ điển trong thơ được bộc lộ rõ rệt, khi lần lượt hình ảnh cánh chim cũng như chòm mây đều là những thi liệu quen thuộc trong thi ca của người xưa. Ví như ca dao có câu "Chim bay về núi, tối rồi", hoặc Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng viết "Chim hôm thoi thót về rừng", đều diễn tả một ý thơ chung ấy là gợi ra cảnh chiều tà, sự kết thúc một ngày trong im lìm, trong sự vận động vội vàng của cánh chim trời. Tuy nhiên trong thơ Hồ Chí Minh, Người không chỉ độc diễn tả cái sự chuyển đổi, vận động của thời gian qua cánh chim, mà điểm khác biệt ấy là thi nhân còn chú ý đến cả sự vận động bên trong của sự vật, rõ ràng tác giả còn nhận thấy được sự mỏi mệt của cánh chim vội vã tìm về tổ.


Cảm nhận đó xuất phát từ mối tương quan sâu sắc giữa người tù cách mạng và cánh chim, chim sau một ngày bay lượn khắp vòm trời kiếm ăn thì cuối ngày cũng trở nên mỏi mệt rệu rã, vội vàng quay về tổ ấm của mình để nghỉ ngơi. Còn người tù thì sau một ngày chuyển lao, gông cùm quấn thân cũng trở nên mỏi mệt, rã rời. Và trong sự tương đồng đó, ta còn nhìn ra được cả tâm trạng của tác giả với cái nhìn lạc quan, âu yếm, khác với cánh chim không phương hướng, đơn độc lẻ loi trong thi ca cổ điển, thì cánh chim trong thơ Bác lại có một điểm dừng nhất định, cánh chim ấy bay về rừng, về nhà của nó để tìm chốn nghỉ ngơi, an giấc. Đồng thời từ góc độ cánh chim ta cũng nhận ra những nỗi nhớ quê hương, nhớ đất mẹ tha thiết của tác giả, cũng như tâm trạng xót xa, buồn bã với cảnh ngộ của bản thân, khi phải lưu lạc trên đất khách, chịu cảnh gông xiềng mà chốn ngủ tối nay còn chưa biết là ở đâu.


Với hình ảnh "chòm mây", so sánh giữa câu thơ gốc và câu thơ dịch, có thể thấy phần dịch thơ vẫn chưa được sát nghĩa, làm mất đi một số những nét nghĩa, ý tứ mà tác giả muốn truyền tải. Ví như "cô vân", tức là đám mây đơn độc lẻ loi, nếu dịch là "chòm mây" thì hầu như khác hoàn toàn, đặc biệt hai từ "mạn mạn" nếu dịch là "trôi nhẹ" thì cũng vẫn chưa diễn tả hết được phong thái của chòm mây trong không gian. Cũng giống như hình ảnh cánh chim, mây cũng là một trong những thi liệu quen thuộc trong thơ ca cổ điển phương đông, được nhiều các tác giả đưa vào trong tác phẩm của mình. Ví như Lý Bạch với "Chúng điểu phi không tân/Cô vân độc khứ nhàn", Thôi Hiệu với "Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay" hoặc Nguyễn khuyến với "Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt", điểm chung là thường bộc lộ những cảm nhận về ước mơ tự do, phiêu diêu thoát khỏi cõi trần tục, cũng như những cảm xúc bâng khuâng, bất định của con người trước cõi hư vô, bất định. Tức là không mang những cảm xúc thực tại trần thế mà phần nhiều người ta vẫn theo mây để tìm cảm giác thoát ly khỏi cuộc đời.


Tuy nhiên trong thơ của Hồ Chí Minh, chòm mây được đưa vào một viễn cảnh thực hơn, mây của Bác là để diễn tả cái nhìn lạc quan, ung dung trước cảnh ngộ khó khăn. Dẫu vất vả, mỏi mệt nhưng Người vẫn cảm thấy mây trời đang trôi một cách thong thả, nhẹ nhàng, gợi mở một không gian khoáng đạt, trong trẻo. Từ đó người ta nhận thấy dẫu rằng trong cảnh gông xiềng, nhưng Hồ Chủ tịch vẫn có một tâm hồn tự do, thi vị, vẫn có tâm trạng để dõi theo một chòm mây trôi lững lờ trên bầu trời. Tuy nhiên "cô vân" của Bác ở đây còn bộc lộ sự cô đơn, trống trải, lẻ loi của một người tù nơi đất khách. Cảnh cánh chim bay vội tìm chốn ngủ và cảnh mây lững lờ trôi nhẹ, cũng dường như gợi tả hai thái cực của sự chia ly, người đi kẻ ở, khá ảm đạm, đìu hiu.


Người tù cách mạng nhìn lại thực cảnh của mình không khỏi nghĩ ngợi, biết đến bao giờ bản thân mới lại có được sự tự do như cánh chim trời có thể về nhà đoàn viên sum họp, được như chòm mây ung dung, tự tại, thong thả trong không gian bao la, rộng lớn. Chung quy lại hai câu thơ tuy tả cảnh đất trời yên bình thong thả, nhưng cũng thấm thía nhiều nỗi buồn của con người. Nhưng không thể đánh giá rằng Hồ Chủ tịch trong Chiều tối mang một sự ảm đạm, bất lực mà nhìn rộng ra chúng ta mới thấy rằng rõ ràng thi sĩ phải có một tâm hồn rất lạc quan, thư thái, ung dung thì mới có được những rung cảm tinh tế với thiên nhiên, cũng như khéo léo gửi tâm trạng của mình vào từng cảnh vật, vần thơ.


Ở hai câu thơ tiếp theo là bức tranh sinh hoạt của con người hiện lên giữa núi rừng làm cho toàn bộ bài thơ sáng lên, ấm áp tình người, bộc lộ được rõ ràng hơn vẻ đẹp tâm hồn và tư tưởng của Hồ Chí Minh.


"Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng"

Dịch thơ:

"Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng"


Hình ảnh một người phụ nữ hiện lên trong công việc lao động xay ngô nặng nhọc chính là một nét vẽ sinh động, cụ thể bộc lộ tính chất hiện đại trong thơ Bác một cách rõ ràng, khác với cái nhìn thoáng qua ở khoảng cách xa với các sự vật như cánh chim, chòm mây thì ở hai câu thơ này việc quan sát cận cảnh, rõ nét khung cảnh sinh hoạt của cô gái xóm núi, đã đặt con người và vị trí trung tâm của bài thơ, là điểm nhấn nổi bật nhất giữa bức tranh thiên nhiên rộng lớn. Hình ảnh cô gái với công việc xay ngô vốn dĩ là một công việc vô cùng giản dị đời thường, nhưng trong bối cảnh nghệ thuật ta lại nhìn ra được vẻ đẹp của tuổi trẻ, sự sung sức, đức tính cần cù chăm chỉ lao động của con người giữa cuộc sống núi rừng thôn dã.


Người phụ nữ không còn bị bó buộc trong chốn khuê phòng mà đã đứng dậy tham gia vào công cuộc lao động, mưu sinh, bộc lộ sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, độc lập trong cuộc sống. Không chỉ vậy hình ảnh cô gái xay ngô, còn thể hiện quan điểm thẩm mỹ mới mẻ, hiện đại của Hồ Chí Minh, khi con người và cuộc sống sinh hoạt nổi bật lên giữa thiên nhiên rộng lớn, hơi ấm, sức sống mạnh mẽ của con người trong công cuộc lao động đã làm mờ đi ngoại cảnh rừng núi bao la. Khác hẳn với hình ảnh con người trong thi ca cổ điển, luôn mất hút hoặc mờ nhạt, ảm đạm giữa thiên nhiên, trở nên yếu đuối và bất lực giữa không gian vũ trụ bao la.


Cách tư duy và thay đổi góc nhìn về mối tương quan giao hòa của con người với thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh đã bộc lộ một cách rõ nét tấm lòng yêu thương, gắn bó với cuộc sống lao động, gắn bó với nhân dân. Người đã bỏ qua những nhọc nhằn khốn khó của bản thân để cảm nhận được vẻ đẹp, dồn mối quan tâm của mình vào những cuộc đời nghèo khó, vất vả đang phải lam lũ kiếm sống mặc dù trời đã tối muộn. Đồng thời thông qua đó chúng ta cũng nhận thấy được niềm vui, sự ấm áp trong tâm hồn của Bác khi được nhìn những con người lao động tuy vất vả, nhưng được hưởng cuộc sống tự do tự tại, điều đó thật rất đáng trân trọng, đáng quý biết bao nhiêu.


Trong câu thơ cuối "lò than đã rực hồng" lại là một hình ảnh vừa cổ điển vừa hiện đại. Trước hết về tính cổ điển nó nằm ở bút pháp chấm phá, chỉ một bếp lửa rực hồng nhưng đã gợi ra cảnh trời hoàn toàn tối hẳn, từ buổi chiều tà đã chuyển hẳn sang đêm, cái sáng của lò than hồng đã mang đến cái đêm tối đậm đặc chốn sơn dã. Về điểm hiện đại ta nhìn đến chữ "hồng", được xem là nhãn tự của cả bài thơ, cân bằng với 27 chữ trước đó. Nếu như 27 chữ đầu luôn gợi nhắc đến một khung cảnh ảm đạm, lãnh lẽo, hoang vu nơi núi rừng hoang vắng, thì chữ "hồng" cuối bài lại dường như thắp sáng, xua đi tất thảy những cái hiu quạnh ấy, đem về sự ấm áp, sinh khí bao trùm lên toàn bộ cảnh vật cũng như tâm hồn của thi nhân.


Sự ấm áp không chỉ đến từ lò than mà còn đến từ tình người. Khi bản thân tác giả đang trong cảm giác trống trải, cô độc, lẻ loi, trôi dạt nơi đất khách thì sự hiện diện của con người lao động, lò than bừng sáng trong đêm tối đã kéo thi nhân về những cảm giác của sự ấm áp đoàn viên, sum họp trong gia đình. Thể hiện sự vận động tích cực trong tâm hồn của người tù cách mạng, luôn hướng về sự sống và ánh sáng, luôn có một niềm tin về tương lai tươi sáng, giữ vững được tinh thần lạc quan, cũng như tấm lòng hòa hợp với thiên nhiên, yêu thương trân trọng con người lao động.


Chiều tối cũng như những bài thơ khác trong tập Nhật ký trong tù đều là những tác phẩm hay có sự hài hòa giữa chất thép và chất tình. Người chiến sĩ cách mạng ngoài tư tưởng chính trị vững vàng, tinh thần yêu nước, kiên trung với lý tưởng cách mạng thì còn nổi bật với vẻ đẹp của một tâm hồn lạc quan, ung dung, thư thái vượt lên trên tất cả những khó khăn nghiệt ngã để hòa mình vào với thiên nhiên, yêu thương, đồng cảm với cuộc sống lao động vất vả của con người, luôn hy vọng về một tương lai tươi sáng tốt đẹp của dân tộc, đất nước.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 2

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 8

Trong tập thơ “Nhật kí trong tù” của tác giả Hồ Chí Minh, bài thơ “Chiều tối” đã trình bày được nổi trội và thâm thúy vẻ đẹp tâm hồn của tác giả. Đây là bài thơ số 31 trên tổng số 134 bài của “Nhật kí trong tù”, là 1 trong 5 bài thơ được Người sáng tác trên đường chuyển lao từ ngục thất Tĩnh Tây sang ngục thất Thiên Bảo. Qua bài thơ, vẻ đẹp tâm hồn của thi sĩ đã được khắc họa rõ nét qua cách cảm nhận về tự nhiên, cũng như ý nghĩa của toàn thể bài thơ.


Hồ Chí Minh là 1 con người tình đời, yêu tự nhiên, mẫn cảm trước những biến thái tinh xảo của tạo vật:


“Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên ko”

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)


Tác giả đã gợi ra thời kì vào buồi chiều tà. Thời điểm buổi chiều tối thường gợi buồn, nhất là trong tình cảnh Bác đang ở trên đất khách quê người trong cảnh mỏi mệt, lê bước trong chặng đường chuyển lao. Buổi chiều là quãng thời kì gợi xúc cảm của con người nhất trong 1 ngày, nó gợi thâm thúy nỗi nhớ về sự đoàn viên. Bác cảm nhận về cánh chim và chòm mây. Bạn đọc đã bắt gặp rất nhiều những bài thơ viết về cánh chim, nhưng mà hình ảnh cánh chim trong bài thơ này lại là cánh chim mỏi mệt. Kế bên ấy, hình ảnh chòm mây như chính là hình ảnh của tác giả và niềm khát khao tự do của người chiến sĩ cộng sản. Hai câu thơ trên gợi ra cho người đọc hình ảnh 1 người chiến sĩ, với tư thế thung dung, hòa hợp với tự nhiên, trình bày niềm khát khao tự do của con người. Trong tình cảnh bị trói buộc về mặt thể chất, nhưng mà tác giả vẫn có sự đánh tháo về mặt ý thức. Bác vẫn có 1 ý thức sáng sủa, vẫn có những quan sát, cảm nhận tinh tế đối với sự vận động của cảnh vật tự nhiên.


Hồ Chí Minh là 1 người mang trong mình tình mến thương thâm thúy, dù trong bất kì tình cảnh nào cũng luôn có sự đồng cảm:


“Sơn thôn thanh nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

(Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết, lò than đã rực hồng)


Bác Hồ trình bày sự san sớt nỗi khó nhọc của cô gái xay ngô nơi xóm núi, vui với thú vui lao động của cô. Giả dụ trong các bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của thơ Đường, có xuất hiện ảnh ảnh những người đàn bà, nhưng mà họ thường hiện ra ở trong sự khuê các. Còn Hồ Chí Minh, Người lại nêu ra hình ảnh người đàn bà trong lao động 1 cách thật thiên nhiên.


Kế bên ấy, bạn đọc còn thấy được vẻ đẹp của niềm sáng sủa bất tử xuyên suốt cả bài thơ. Trong 1 bài thơ, từ hình tượng thơ ta có thể nhìn thấy tư tưởng của tác giả đều có sự di chuyển nhất quán, hướng đến sự sống mai sau. Tâm cảnh có sự di chuyển từ buồn tới vui, từ độc thân, cô đơn tới ấm áp. Hình ảnh cánh chim đượm buồn nhưng mà là cánh chim bay về tổ, gợi 1 chút gì ấy ấm áp của sự đoàn viên. Chòm mây độc thân gợi nỗi buồn cô đơn, nhưng mà chòm mây đấy lại “mạn mạn độ thiên ko” gợi 1 tâm hồn hào phóng, 1 phong độ thung dung, tự tại, làm chủ mình trong mọi tình cảnh. Từ hình ảnh cánh chim và chòm mây di chuyển, chiếc cối xay ngô của cô gái vùng sơn cước cũng di chuyển. Thời gian trôi dần theo cánh chim và chòm mây theo những vòng xoay của cối xay ngô, quay mãi, và tới lúc “bao túc ma hoàn” thì “lô dĩ hồng”. Bình luận về chữ “hồng”, đây được coi là nhãn tự của bài thơ, nó nằm ở cuối bài nhưng mà lại gánh được 24 chữ kia, và mang đến khí sắc cho bài thơ.


Qua bài thơ “Chiều tối”, ta cảm thu được vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản, giàu tình mến thương, luôn nâng niu mọi sự sống trên đời, sáng sủa hướng về ánh sáng.

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 8
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 8

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 7

Bấy lâu viết về chiều muộn vốn là nguồn cảm hứng ko vơi cạn của văn học nghệ thuật. Khó có thể kể hết những bức tranh chiều, những bản nhạc chiều, những áng thơ chiều nhưng các nghệ sĩ, văn nhân đã để lại cho đời sống con người. Về mặt này, Hồ Chí Minh trong nhân cách 1 thi sĩ cũng không hề là ngoại lệ.


Có thể thấy ngay từ tập thơ Nhật kí trong tù, trái tim của thi nhân đấy đã ko chỉ 1 lần rung động trước vẻ gợi cảm của buổi chiều hôm để viết ra những vần thơ nhưng còn được nhiều người nhớ mãi như “Vãn chiều hôm”, “Hoàng hôn”,… Song trước tất cả và thân thuộc hơn tất cả những bài thơ chúng ta vừa kể tới vẫn phải là bài thơ nhưng chúng ta sẽ mày mò dưới đây: “Mộ” (Chiều tối).

Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên ko

Sơn thôn thanh nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng ko

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng.)


“Chiều tối“ là 1 bài thơ viết về những vẻ đẹp của buổi chiều hôm, nhưng mà điều lý thú là trong 2 câu thơ trước nhất cũng như cả bài thư lại ko dùng tới 1 chữ “chiều“ nào. Vậy nhưng cảnh chiều và hồn chiều vẫn hiện lên rất rõ, rất đẹp và đầy vẻ gợi cảm. Nhà thơ chỉ vờn vẽ lên 1 vài nét tiêu sơ, gợi nên hình ảnh cánh chim chiều về tổ hay 1 chòm mây, áng mây chầm chậm trôi ngang qua bầu trời. Ít nét thế thôi song lại là những nét rất điển hình cho những thời điểm chung cuộc của ban ngày, trước lúc bóng tối buông màn xuống vạn vật.


Từ những câu thơ chung cuộc lan toả ra 1 cảm giác nhẹ nhõm, man mác bâng khuâng của buổi chiều hôm trong khi mọi vật dần đi vào tình trạng ngơi nghỉ. Đấy có thể là 1 buổi chiều thực nhưng Bác đã gặp và đánh dấu trong 1 cuộc chuyển giao từ ngục thất này sang ngục thất khác. Nhưng cũng chẳng thể ko thấy rằng buổi chiều đấy còn mang 1 vẻ đẹp đã phát triển thành vĩnh hằng của những buổi chiều nhưng hình sắc còn đọng lại trong những câu thơ cổ nhưng ở ấy vẫn đi về ko ít những “quyện điểu“ với “cô vân”. “Chim hôm thoi thót về rừng /Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành” (Nguyễn Du), “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện Thanh Quan) hay như: “Chúng điểu cao phi tận/ Cô vân độc khứ nhàn” (Lý Bạch).

Và như thế, những dòng thơ trước nhất chừng như đã khiến cho bài thơ “Chiều tối“ của Bác đã nhuốm 1 phong vị cổ đại. Xúc cảm bài thơ vì vậy nhưng càng phát triển thành mênh mông hơn, ko chỉ trong ko gian nhưng còn cả ở thời kì. Những cảm xúc như thế đã được thi sĩ gửi gắm vào 2 câu thơ về chiều hôm ấy.


Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không


Có nhiều người cho rằng những dòng thơ ẩn chứa 1 nỗi buồn bí mật và thấm thía của 1 người tù trên tuyến đường đày cửa ải đang thấm 1 nỗi xót xa lúc thấy những cánh chim chiều cũng tìm ra chốn ngủ, những đám mây cũng lờ lững ngơi nghỉ trên bầu trời rộng lớn.


Trong lúc ấy, người tù vẫn bị xiềng xích, trói buộc chẳng bằng cánh chim nọ, áng mây kia vì chiều đã sắp hết rồi nhưng mình vẫn ko có nổi 1 chốn ngừng chân. Mặt khác, cũng có 1 cách hiểu chừng như hoàn toàn trái lại. Theo ấy, có thể thấy đây là 2 dòng thơ của 1 tâm hồn đã vượt lên trên cảnh lao tù, xiềng xích và trói buộc để quyến luyến, dõi nhìn theo 1 cánh chim, 1 áng mây chiều để cảm thấy tim mình xao xuyến 1 tình cảm rất người, cho dù đang phải sống 1 cuộc sống “khác loài”. Nên chăng ta hãy hiểu theo 1 cách hiểu được nhiều người ủng hộ nhất, cách hiểu thứ 2.


Song hiểu theo cách nào trong 2 cách trên, chúng ta vẫn tìm thấy ở ấy 1 chân dung ý thức của 1 chủ tịch Hồ Chí Minh nhà thơ, 1 con người tình thiết tha vẻ đẹp của tự nhiên, đất trời và cuộc sống. Đấy là 1 con người dù trong tình cảnh nào cũng vẫn ko để mất đi dù chỉ 1 mảy may tình yêu cái đẹp, bản lĩnh rung cảm trước cuộc đời, 1 con người sống toàn vẹn cuộc sống con người, dù trong tình cảnh có khác nhân loại. Cũng như nhiều bài thơ khác trong “Nhật kí trong tù“, “Chiều tối” biểu thị 1 cảm nhận của tác giả về cuộc sống luôn có sự di chuyển, tăng trưởng, chảy trôi. Chúng ta có thể thấy điều đấy lúc đối chiếu 2 câu đầu với 2 câu cuối của bài thơ.


Nét cổ đại thấy rõ qua việc tác giả vẽ lên ko gian buổi chiều với những thi liệu thân thuộc: cánh chim, chòm mây, bầu trời… kế bên ấy là thể thơ thất ngôn đường luật cùng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã tạo điều kiện cho thi nhân tăng trưởng ý đồ nghệ thuật của mình. Nét đương đại: tất cả được vẽ nên thơ qua tình cảm rộng lớn của Bác. Tỉ dụ: cánh chim trong thơ cổ thường hiện ra và bay hút vào vũ trụ, là cánh chim lưu lạc, vô định trước bầu trời... thì trong thơ Bác cánh chim rất thân cận với con người. Bác thấy được trong cánh chim chiều muộn bay về tìm chốn ngừng chân là cánh chim “mỏi”. Phcửa ải yêu tự nhiên, cảnh vật và có mối đồng cảm rộng lớn thì mới nhìn được cái dáng mệt mỏi của cánh chim kia...


Rõ ràng 2 câu thơ trên đã viết về 1 quang cảnh tự nhiên vào khi chiều tà, nhưng mà tới 2 câu thơ sau đã có thể thấy rõ trời đã đổ tối. Thời gian ko dừng trôi, mặc dầu thi sĩ trong nguyên tác đã ko cần dùng tới chữ “tối” (Chữ “tối“ trong bản dịch là do người dịch tự thêm vào). Và bởi phải vào thời khắc như thế, người ta mới thấy được rõ ràng sự rực hồng của bếp lửa, nhưng cái tài của thi sĩ ở đây là ko cần dùng tới chữ “tối“ nhưng nghĩa đấy vẫn cứ hiện lên rõ mồn 1. Và như thế, cặp mắt của thi nhân sẽ thôi ko ngước nhìn mãi về phía bầu trời nhưng hướng về mặt đất để nhận thấy ấn tượng về 1 xóm núi, về 1 cô gái xay ngô, 1 chiếc lò than trong ngôi nhà đơn sơ, giản dị.


Bức tranh của cảnh vật sẽ nhường chỗ cho bức tranh sinh hoạt con người. Hình ảnh trung tâm của 2 câu thơ cũng sẽ không hề là 1 cánh chim chiều về tổ, 1 áng mây trôi nhưng là 1 con công nhân. Và ngôn từ của những dòng thơ cũng sẽ theo ấy nhưng thay đổi. Hai câu thơ này ko thấm thía hương vị thơ cổ đại như 2 câu trên nhưng mang nhiều chất “bạch thoại”, mộc mạc, đời thường, trình bày rõ nhất ở chữ “bao túc” hiện ra tới 2 lần. Hai câu thơ này 1 lần nữa ko chỉ là để đánh dấu những gì thi sĩ đã thấy trong 1 buổi chiều. Bởi ko nên quên rằng “Chiều tối” vẫn là 1 tác phẩm trữ tình và cái hồn của câu thơ nằm ở những tình cảm, rung động nhưng thi sĩ đã trao gửi vào trong những dòng chữ.


Nhiều người đã thấy ở đây nỗi xót xa bí mật nhưng sâu xa của thi sĩ đối với con công nhân. Nhà thơ chừng như đã đồng cảm với sự mệt nhọc của họ. Đồng cảm ở cách thi sĩ nói việc xay ngô, ở cách dùng chữ “ma bao túc” để bật lên những vòng quay nặng nề, lẩn quẩn và ở âm điệu của những câu thơ nhưng đọc lên có thể cảm thấy khó nhọc, gian truân. Và như thế, chúng ta có thể cảm thu được tình thương đối với nỗi đau buồn của những con công nhân, cho dù ấy là những con người không hề là đồng bào của Bác, ko quen thói, thậm chí chưa hề gặp gỡ. Song cũng nhiều người muốn hiểu 2 câu thơ sau này theo nghĩa khác, 1 hướng tiếp thu khác.


Phcửa ải chú tâm tới những chữ “hoàn“ (hết) và hình ảnh của chiếc lò than đã rực đỏ lên, để nhìn thấy rằng thi sĩ muốn nhắc đến cảm giác về 1 sự ấm áp, sum họp, về 1 thứ hạnh phúc bình dị trong 1 căn nhà yên ấm. Bếp lửa đã cháy lên và công tác lao động cũng đã hoàn thành. Và như thế, cái phệ của những dòng thơ là ở bản lĩnh vô song của Bác, bản lĩnh nhưng khó có người nào vượt hơn, thậm chí sánh nổi. Đấy là bản lĩnh quên đi nỗi đau buồn rất phệ của mình để đồng cảm, để vui với những thú vui bé bỏng, giản dị của con người. Nhưng 2 quan điểm đấy ngẫm ra cũng ko hoàn toàn đối lập, bởi vì đều nói lên 1 nhân phẩm chung, nhân phẩm nhưng sau lúc Bác mất, thi sĩ Tố Hữu mới nhắc đến thật nhiều và thật thấm thía trong những câu thơ: “Chỉ biết quên mình cho hết thảy” hay: Nâng niu tất cả chỉ quên mình”.


Chúng ta nhìn thấy “Chiều tối” là những vần thơ quên mình lớn lao. Tột độ con người đang ở trong 1 tình cảnh tột đỉnh đau buồn nhưng mà vẫn có thể rung động được với nỗi khổ hoặc thú vui của những con người phổ biến khác, ngẫu nhiên gặp gỡ hoặc thấy trên tuyến đường đày cửa ải. Nhưng có nhẽ cũng ko nên nói rằng Bác Hồ đã quên mình bởi 1 người như Bác thì bầu trời, xóm núi, cô gái xay ngô và bếp lửa đang rực hồng lên đấy không hề là những cái ở bên ngoài mình.


Bị trói, bị cầm tù, bị giải đi “5 mươi 3 cây số 1 ngày/ Áo mũ dầm mưa rách hết giày”. Nhưng chừng như Người không phải chú ý gì tới sự đau buồn của bản thân mình. Người luôn hướng ngoại, lấy tình yêu của mình trải lên cả ko gian rộng lớn để quên đi nỗi mệt nhọc. Người khinh thường khó khăn, chịu mọi đắng cay và ko bao giờ than van. Đấy chính là ý thức thép lớn lao của người tù nhà thơ Hồ Chí Minh.


Hình như với Bác, ấy là cuộc sống của chính mình. Vậy nói như thi sĩ Tố Hữu, Bác có thể nâng niu tất cả, vì Bác sống như trời đất, vì Bác có 1 trái tim có thể ôm trọn mọi quốc gia, kiếp người: Bác sống như trời đất của ta.


“Chiều tối” là bài thơ hay trong tập Nhật kí trong tù. 1 bài thơ liên kết giữa hiện thực và lãng mạn, vừa hồn nhiên, vừa trầm lặng thâm thúy. Chất trẻ trung đương đại liên kết hài hòa với hương vị cổ đại đặm đà. Hồn thơ vượt lên trên sự khổ cửa ải để cảm nhận dạt dào vẻ đẹp của tự nhiên và nhựa sống của những mảnh đời thường trong lao động. Qua ấy, ta thấy trong thơ của Bác từ tư tưởng tới hình tượng nghệ thuật đều xoành xoạch ở tư thế di chuyển và nhất quán hướng về sự sống, ánh sáng và mai sau…


“Cái kết này tuy ko sáng bừng lên màu hồng sáng sủa cách mệnh như người nào ấy hiểu, cũng vẫn ấm áp tình người, khiến cho nỗi lòng người đi vơi bớt nỗi độc thân, tịch mịch. Cộng với hình ảnh đấy 1 ước mong thầm kín về mái ấm gia đình nhấp nhoáng đâu ấy. Nghệ thuật của bài thơ là 1 nghệ thuật gián tiếp cổ đại, nói cảnh để nói tình. Hình ảnh trong thơ cũng là tâm trạng. Nếu chỉ phân tách nó như 1 bức tranh hiện thực giản đơn, kiên cố ta sẽ rời xa toàn cầu nội tâm phong phú của thi sĩ”.

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 7
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 7

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 4

Xưa nay viết về chiều muộn vốn là nguồn cảm hứng không vơi cạn của văn chương nghệ thuật. Khó có thể kể hết những bức tranh chiều, những bản nhạc chiều, những áng thơ chiều mà các nghệ sĩ, tạo nhân đã để lại cho đời sống con người. Về mặt này, Hồ Chí Minh trong tư cách một nhà thơ cũng không phải là ngoại lệ.


Có thể thấy ngay từ tập thơ Nhật kí trong tù, trái tim của thi nhân ấy đã không chỉ một lần rung động trước vẻ gợi cảm của buổi chiều hôm để viết ra những vần thơ mà còn được nhiều người nhớ mãi như “Vãn chiều hôm”, “Hoàng hôn”,... Song trước tất cả và quen thuộc hơn tất cả những bài thơ chúng ta vừa kể đến vẫn phải là bài thơ mà chúng ta sẽ tìm hiểu dưới đây: “Mộ” (Chiều tối).


Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng.)


“Chiều tối“ là một bài thơ viết về những vẻ đẹp của buổi chiều hôm, những điều lý thú là trong hai câu thơ đầu tiên cũng như cả bài thơ lại không dùng đến một chữ “chiều“ nào. Vậy mà cảnh chiều và hồn chiều vẫn hiện lên rất rõ, rất đẹp và đầy vẻ gợi cảm. Nhà thơ chỉ vờn vẽ lên một vài nét tiêu sơ, gợi nên hình ảnh cánh chim chiều về tổ hay một chòm mây, áng mây chầm chậm trôi ngang qua bầu trời. Ít nét thế thôi song lại là những nét rất tiêu biểu cho những thời khắc cuối cùng của ban ngày, trước khi bóng tối buông màn xuống vạn vật.


Từ những câu thơ cuối cùng lan tỏa ra một cảm giác nhẹ nhàng, man mác bâng khuâng của buổi chiều hôm khi mà mọi vật dần đi vào trạng thái nghỉ ngơi. Đó có thể là một buổi chiều thực mà Bác đã gặp và ghi lại trong một cuộc chuyển giao từ nhà lao này sang nhà lao khác. Nhưng cũng không thể không thấy rằng buổi chiều ấy còn mang một vẻ đẹp đã trở nên vĩnh hằng của những buổi chiều màn hình sắc còn đọng lại trong những câu thơ cổ mà ở đó vẫn đi về không ít những “quyện điểu“ với “cô vân”. "Chim hôm thoi thót về rừng /Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành" (Nguyễn Du), "Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi" (Bà Huyện Thanh Quan) hay như: "Chúng điểu cao phi tận/Cô vân độc khứ nhàn" (Lý Bạch).


Và như thế, những dòng thơ đầu tiên hình như đã làm cho bài thơ “Chiều tối“ của Bác đã nhuốm một phong vị cổ điển. Cảm xúc bài thơ vì thế mà càng trở nên mênh mang hơn, không chỉ trong không gian mà còn cả ở thời gian. Những xúc cảm như thế đã được nhà thơ gửi gắm vào hai câu thơ về chiều hôm đó.


Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không


Có nhiều người cho rằng những dòng thơ ẩn chứa một nỗi buồn kín đáo và thấm thía của một người tù trên con đường đày ải đang thấm một nỗi xót xa khi thấy những cánh chim chiều cũng tìm ra chốn ngủ, những đám mây cũng lững lờ nghỉ ngơi trên bầu trời bao la.


Trong khi đó, người tù vẫn bị xiềng xích, trói buộc chẳng bằng cánh chim nọ, áng mây kia vì chiều đã sắp hết rồi mà mình vẫn không có nổi một chốn dừng chân. Mặt khác, cũng có một cách hiểu dường như hoàn toàn ngược lại. Theo đó, có thể thấy đây là hai dòng thơ của một tâm hồn đã vượt lên trên cảnh ngục tù, xiềng xích và trói buộc để lưu luyến, dõi nhìn theo một cánh chim, một áng mây chiều để cảm thấy tim mình xao xuyến một tình cảm rất người, cho dù đang phải sống một cuộc sống “khác loài”. Nên chăng ta hãy hiểu theo một cách hiểu được nhiều người ủng hộ nhất, cách hiểu thứ hai.


Song hiểu theo cách nào trong hai cách trên, chúng ta vẫn tìm thấy ở đó một chân dung tinh thần của một chủ tịch Hồ Chí Minh thi sĩ, một con người yêu tha thiết vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời và cuộc sống. Đó là một con người dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn không để mất đi dù chỉ một mảy may tình yêu cái đẹp, khả năng rung cảm trước cuộc đời, một con người sống trọn vẹn cuộc sống con người, dù trong hoàn cảnh có khác loài người. Cũng như nhiều bài thơ khác trong “Nhật kí trong tù“, “Chiều tối" biểu hiện một cảm nhận của tác giả về cuộc sống luôn có sự vận động, phát triển, chảy trôi. Chúng ta có thể thấy điều ấy khi đối chiếu hai câu đầu với hai câu cuối của bài thơ.


Nét cổ điển thấy rõ qua việc tác giả vẽ lên không gian buổi chiều với những thi liệu quen thuộc: cánh chim, chòm mây, bầu trời... bên cạnh đó là thể thơ thất ngôn đường luật cùng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã giúp cho thi nhân phát triển ý đồ nghệ thuật của mình. Nét hiện đại: tất cả được vẽ nên thơ qua tình cảm bao la của Bác. Ví dụ: cánh chim trong thơ cổ thường xuất hiện và bay hút vào vũ trụ, là cánh chim phiêu dạt, vô định trước bầu trời... thì trong thơ Bác cánh chim rất gần gũi với con người. Bác thấy được trong cánh chim chiều muộn bay về tìm chốn dừng chân là cánh chim "mỏi". Phải yêu thiên nhiên, cảnh vật và có mối đồng cảm bao la thì mới nhìn được cái dáng mỏi mệt của cánh chim kia...


Rõ ràng hai câu thơ trên đã viết về một khung cảnh thiên nhiên vào lúc chiều tà, nhưng đến hai câu thơ sau đã có thể thấy rõ trời đã đổ tối. Thời gian không ngừng trôi, mặc dù nhà thơ trong nguyên tác đã không cần dùng đến chữ “tối” (Chữ “tối“ trong bản dịch là do người dịch tự thêm vào). Và bởi phải vào thời điểm như thế, người ta mới thấy được rõ ràng sự rực hồng của bếp lửa, mà cái tài của nhà thơ ở đây là không cần dùng đến chữ “tối“ mà nghĩa ấy vẫn cứ hiện lên rõ mồn một. Và như thế, cặp mắt của thi nhân sẽ thôi không ngước nhìn mãi về phía bầu trời mà hướng về mặt đất để nhận thấy ấn tượng về một xóm núi, về một cô gái xay ngô, một chiếc lò than trong ngôi nhà đơn sơ, giản dị.


Bức tranh của cảnh vật sẽ nhường chỗ cho bức tranh sinh hoạt con người. Hình ảnh trung tâm của hai câu thơ cũng sẽ không phải là một cánh chim chiều về tổ, một áng mây trôi mà là một con người lao động. Và ngôn từ của những dòng thơ cũng sẽ theo đó mà đổi thay. Hai câu thơ này không thấm thía hương vị thơ cổ điển như hai câu trên mà mang nhiều chất “bạch thoại”, mộc mạc, đời thường, thể hiện rõ nhất ở chữ “bao túc” xuất hiện đến hai lần. Hai câu thơ này một lần nữa không chỉ là để ghi lại những gì nhà thơ đã thấy trong một buổi chiều. Bởi không nên quên rằng “Chiều tối” vẫn là một tác phẩm trữ tình và cái hồn của câu thơ nằm ở những tình cảm, rung động mà nhà thơ đã trao gửi vào trong những dòng chữ. Nhiều người đã thấy ở đây nỗi xót xa kín đáo mà sâu xa của nhà thơ đối với con người lao động.


Nhà thơ dường như đã đồng cảm với sự nhọc nhằn của họ. Đồng cảm ở cách nhà thơ nói việc xay ngô, ở cách dùng chữ “ma bao túc” để bật lên những vòng quay nặng nề, luẩn quẩn và ở âm điệu của những câu thơ mà đọc lên có thể cảm thấy vất vả, khó khăn. Và như thế, chúng ta có thể cảm nhận được tình thương đối với nỗi đau khổ của những con người lao động, cho dù đó là những con người không phải là đồng bào của Bác, không quen thân, thậm chí chưa hề gặp mặt. Song cũng nhiều người muốn hiểu hai câu thơ sau này theo nghĩa khác, một hướng tiếp nhận khác.


Phải chú ý đến những chữ “hoàn“ (hết) và hình ảnh của chiếc lò than đã rực đỏ lên, để nhận ra rằng nhà thơ muốn nói đến cảm giác về một sự ấm áp, sum vầy, về một thứ hạnh phúc bình dị trong một căn nhà ấm cúng. Bếp lửa đã cháy lên và công việc lao động cũng đã hoàn tất. Và như thế, cái lớn của những dòng thơ là ở khả năng vô song của Bác, khả năng mà khó có ai vượt hơn, thậm chí sánh nổi. Đó là khả năng quên đi nỗi đau khổ rất lớn của mình để đồng cảm, để vui với những niềm vui bé nhỏ, giản dị của con người. Nhưng hai ý kiến ấy ngẫm ra cũng không hoàn toàn đối lập, bởi vì đều nói lên một phẩm chất chung, phẩm chất mà sau khi Bác mất, nhà thơ Tố Hữu mới nói đến thật nhiều và thật thấm thía trong những câu thơ: "Chỉ biết quên mình cho hết thảy" hay: Nâng niu tất cả chỉ quên mình".


Chúng ta nhận ra “Chiều tối" là những vần thơ quên mình vĩ đại. Cực độ con người đang ở trong một cảnh ngộ tột cùng đau khổ nhưng vẫn có thể rung động được với nỗi khổ hoặc niềm vui của những con người bình thường khác, tình cờ gặp mặt hoặc thấy trên con đường đầy ải. Nhưng có lẽ cũng không nên nói rằng Bác Hồ đã quên mình bởi một người như Bác thì bầu trời, xóm núi, cô gái xay ngô và bếp lửa đang rực hồng lên ấy không phải là những cái ở bên ngoài mình.


Bị trói, bị tù đày, bị giải đi "Năm mươi ba cây số một ngày/ Áo mũ dầm mưa rách hết giày". Nhưng dường như Người không hề để ý gì đến sự đau khổ của bản thân mình. Người luôn hướng ngoại, lấy tình yêu của mình trải lên cả không gian bao la để quên đi nỗi nhọc nhằn. Người coi thường gian khổ, chịu mọi cay đắng và không bao giờ than van. Đó chính là tinh thần thép vĩ đại của người tù thi sĩ Hồ Chí Minh.


Dường như với Bác, đấy là cuộc sống của chính mình. Vậy nói như nhà thơ Tố Hữu, Bác có thể nâng niu tất cả, vì Bác sống như trời đất, vì Bác có một trái tim có thể ôm trọn mọi non sông, kiếp người: Bác sống như trời đất của ta.


“Chiều tối” là bài thơ hay trong tập Nhật kí trong tù. Một bài thơ kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, vừa hồn nhiên, vừa thâm trầm sâu sắc. Chất trẻ trung hiện đại kết hợp hài hòa với hương vị cổ điển đậm đà. Hồn thơ vượt lên trên sự khổ ải để cảm nhận dạt dào vẻ đẹp của thiên nhiên và sức sống của những mảnh đời thường trong lao động. Qua đó, ta thấy trong thơ của Bác từ tư tưởng đến hình tượng nghệ thuật đều luôn luôn ở tư thế vận động và nhất quán hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai...


“Cái kết này tuy không sáng bừng lên màu hồng lạc quan cách mạng như ai đó hiểu, cũng vẫn ấm áp tình người, làm cho nỗi lòng người đi vơi bớt nỗi cô đơn, tịch mịch. Cùng với hình ảnh ấy một ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình thấp thoáng đâu đó. Nghệ thuật của bài thơ là một nghệ thuật gián tiếp cổ điển, nói cảnh để nói tình. Hình ảnh trong thơ cũng là tâm cảnh. Nếu chỉ phân tích nó như một bức tranh hiện thực giản đơn, chắc chắn ta sẽ rời xa thế giới nội tâm phong phú của nhà thơ”.

Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 4
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong
Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong "Chiều tối" bài 4

Bình luận

Có Thể Bạn Quan Tâm ?