Top 7 Bài văn so sánh hình tượng "Người lái đò sông Đà" và "nhân vật Huấn Cao" trong 2 tác phẩm của Nguyễn Tuân hay nhất

Nguyễn Tuân (1910-1987) là một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp. Trước cách mạng, ông quan niệm cái đẹp chỉ có trong quá khứ “Vang bóng một thời” và tài hoa nghệ sĩ chỉ có ở những con người xuất chúng của thời trước còn vương sót lại. Còn sau cách mạng, ông không đối lập quá khứ với hiện tại và cái đẹp có cả ở quá khứ, hiện tại, đặc biệt là phẩm chất tài hoa có thể có ở cả nhân dân đại chúng. Qua việc phân tích hai nhân vật ông Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” và nhân vật ông Lái đò trong “Người lái đò sông Đà”, chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó. Mời câc bạn tham khảo một số bài văn so sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 7

Nguyễn Tuân (1910 - 1987) được mệnh danh là một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp của cuộc đời và viết lên những áng văn hay cho hậu thế. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, quan niệm cái đẹp của Nguyễn Tuân là những thứ chỉ còn xuất hiện trong quá khứ ở những bậc cao nhân tài hoa. Còn sau cách mạng với sự thay đổi của thời đại quan điểm cái đẹp của ông đã thay đổi gắn liền với cuộc sống thường nhật từ những gì dung dị nhất. Thông qua hai nhân vật Huấn Cao trong "Chữ người tử tù" và ông lái đò trong "Người lái đò sông Đà" ta thấy rõ nhất sự chuyển dịch trong cảm hứng sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân.


Có thể nói, "Chữ người tử tù" được xem là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Tuân trong gia đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Truyện ngắn này được trích ra từ tập "Vang bóng một thời" đây là tập truyện kể về những con người tài hoa giờ đã vang bóng một thời. Nhân vật chính của truyện là Huấn Cao người mang vẻ đẹp của một người nghệ sĩ tài hoa với khả năng viết chữ thư pháp đẹp nức tiếng gần xa. Ngay cả Viên quản ngục của một huyện nhỏ vô danh cũng biết: "Chữ ông đẹp lắm, vuông lắm...có được chữ ông Huấn Cao mà treo trong nhà là có một vật báu ở trên đời". Cho nên sở nguyện của Viên quản ngục là một ngày kia ngôi nhà của ông sẽ được treo một đôi câu đối do chính tay ông Huấn Cao viết.


Huấn Cao không chỉ có tài viết chữ đẹp mà ông còn có một thiên lương trong sáng. Ông không bao giờ ép mình cho chữ vì tiền hay vì quyền thế. Ông chỉ cho chữ những người biết trân quý cái đẹp cái tài. Cho nên suốt đời Huấn Cao mới chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn mà ông yêu mến. Lúc đầu, ông tỏ ra khinh bạc viên quản ngục vì nghĩ rằng hắn định có âm mưu đen tối gì với mình khi biệt đãi trong phòng giam. Rồi từ từ Huấn Cao mới cảm nhận được tấm lòng "biệt nhỡn liên tài" của ông quản ngục và viên thơ lại. Họ là những người biết yêu cái đẹp thành tâm xin chữ Huấn Cao. Và để không phụ lòng viên quản ngục ông đã cho chữ ngay trong nhà lao. Nguyễn Tuân đã mô tả cảnh cho chữ là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.


Nhân vật Huấn Cao không chỉ đẹp ở tài năng mà còn đẹp ở cái tâm và ý chí bất khuất hiên nang của người quân tử. Ở ông có khí phách của người anh hùng mà không phải ai cũng có thể có được. Thông qua nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã bộc lộ niềm tin bất diệt vào những cái đẹp mang giá trị cao quý ngay cả trong những nơi tối tăm, dơ bẩn nhất vẫn tỏa sáng.


Nếu như Huấn Cao được ví như anh tài xuất chúng được xây dựng trong hoàn cảnh có một không hai thì nhân vật ông lái đò lại có chút bình dị hơn. Trong tùy bút "Người lái đò sông Đà" của Nguyễn Tuân nhân vật ông lái đò được xây dựng hết sức chân thật qua công việc ông làm. Ông lái đò là người có ngoại hình rất đặc biệt với hai tay "lêu nghêu", chân "khuỳnh khuỳnh", giọng nói thì "ào ào như tiếng nước trước mặt gềnh", đôi mắt thì "vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó"... Với đặc điểm ngoại hình như thế chúng ta thấy được rất phù hợp với môi trường lao động trên sông nước của ông.


Ông lái đò được Nguyễn Tuân miêu tả là một người rất tài trí và có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ. Ông là người làm nghề rất có tâm hiểu biết tường tận từng ngóc ngách của con sông cũng như tính nết của nó. Ông nhớ như đóng đanh vào lòng những luồng nước và tất cả những con thác hiểm chở. Nắm bắt được trận đồ binh pháp của thần sông, thần đá. Thuộc làu quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở. Đặc biệt, ông còn chỉ huy được các cuộc vượt thác một cách tài tình biết rõ từng cửa sinh, cửa tử mà vượt qua.


Nguyễn Tuân miêu tả ông lái đò như một vị tướng hiên ngang "tả xung hữu đột" trước muôn trùng sóng nước của sông Đà. Ông là người rất dũng cảm biết chịu cái đau của thể xác do vật lộn với sóng to gió lớn để chiến thắng thác dữ bằng những động tác táo bạo và vô cùng chuẩn xác. Ta thấy ông lái đò được xây dựng như một nghệ sĩ thực thụ chứ không phải là một người lái đò bình thường.


Cả hai nhân vật Huấn Cao và ông lão lái đò đều được xây dựng bằng biện pháp lý tưởng hóa. Xuất phát từ cơ sở cái nhìn độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân. Ông nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ có thể làm nổi bật lên những vẻ đẹp phi thường trong tài năng, cốt cách của họ. Nhà văn đã đặt hai nhân vật vào những tình huống đầy thử thách để giúp họ bộc lộ được phẩm chất đáng quý của mình.


Nếu như khi xây dựng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân sử dụng tri thức nghệ thuật thì xây dựng nhân vật ông lái đò nhà văn lại vận dụng nhiều vốn tri thức đời sống. Chính điều này đã khiến cho ngòi bút Nguyễn Tuân thuyết phục được nhiều đối tượng độc giả. Những tác phẩm văn chương của ông không chỉ đẹp về mặt ngôn từ còn có giá trị nghệ thuật rất đặc sắc mà hậu thế phải công nhận.

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 7
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 7
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 7
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 7

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 3

Nguyễn Tuân (1910 - 1987) được mệnh danh là một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp của cuộc đời và viết lên những áng văn hay cho hậu thế. Trước CMT8 năm 1945, quan niệm cái đẹp của Nguyễn Tuân là những thứ chỉ còn xuất hiện trong quá khứ ở những bậc cao nhân tài hoa. Còn sau cách mạng với sự thay đổi của thời đại quan điểm cái đẹp của ông đã thay đổi gắn liền với cuộc sống thường nhật từ những gì dung dị nhất. Thông qua hai nhân vật Huấn Cao trong "Chữ người tử tù" và ông lái đò trong "Người lái đò sông Đà" ta thấy rõ nhất sự chuyển dịch trong cảm hứng sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân.


Có thể nói, "Chữ Người Tử Tù" được xem là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Tuân trong giai đoạn trước CMT8 năm 1945. Truyện ngắn này được trích ra từ tập "Vang bóng một thời" đây là tập truyện kể về những con người tài hoa giờ đã vang bóng một thời. Nhân vật chính của truyện là Huấn Cao người mang vẻ đẹp của một người nghệ sĩ tài hoa với khả năng viết chữ thư pháp đẹp nức tiếng gần xa. Ngay cả Viên quản ngục của một huyện nhỏ vô danh cũng biết: "Chữ ông đẹp lắm, vuông lắm...có được chữ ông Huấn Cao mà treo trong nhà là có một vật báu ở trên đời". Cho nên sở nguyện của Viên quản ngục là một ngày kia ngôi nhà của ông sẽ được treo một đôi câu đối do chính tay ông Huấn Cao viết.


Huấn Cao không chỉ có tài viết chữ đẹp mà ông còn có một thiên lương trong sáng. Ông không bao giờ ép mình cho chữ vì tiền hay vì quyền thế. Ông chỉ cho chữ những người biết trân quý cái đẹp cái tài.Cho nên suốt đời Huấn Cao mới chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn mà ông yêu mến.Lúc đầu, ông tỏ ra khinh bạc viên quản ngục vì nghĩ rằng hắn định có âm mưu đen tối gì với mình khi biệt đãi trong phòng giam.Rồi từ từ Huấn Cao mới cảm nhận được tấm lòng "biệt liên tài" của ông quản ngục và viên thơ lại.Họ là những người biết yêu cái đẹp thành tâm xin chữ Huấn Cao. Và để không phụ lòng viên quản ngục ông đã cho chữ ngay trong nhà lao. Nguyễn Tuân đã mô tả cảnh cho chữ là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.


Nhân vật Huấn Cao không chỉ đẹp ở tài năng mà còn đẹp ở cái tâm và ý chí bất khuất hiên ngang của người quân tử. Ở ông có khí phách của người anh hùng mà không phải ai cũng có thể có được. Thông qua nhân vật Huấn Cao, nhà văn Nguyễn Tuân đã bộc lộ niềm tin bất diệt vào những cái đẹp mang giá trị cao quý ngay cả trong những nơi tối tăm, dơ bẩn nhất vẫn tỏa sáng.


Nếu như Huấn Cao được ví như anh tài xuất chúng được xây dựng trong hoàn cảnh có một không hai thì nhân vật ông lái đò lại có chút bình dị hơn. Trong tùy bút "Người lái đò sông Đà" của Nguyễn Tuân nhân vật ông lái đò được xây dựng hết sức chân thật qua công việc ông làm. Ông lái đò là người có ngoại hình rất đặc biệt với hai tay "lêu nghêu", chân "khuỳnh khuỳnh", giọng nói thì "ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh", đôi mắt thì "vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó"...Với đặc điểm ngoại hình như thế chúng ta thấy được rất phù hợp với môi trường lao động trên sông nước của ông.


Ông lái đò được Nguyễn Tuân miêu tả là một người rất tài trí và có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ. Ông là người làm nghề rất có tâm hiểu biết tường tận từng ngóc ngách của con sông cũng như tính nết của nó. Ông nhớ như đóng đanh vào lòng những luồng nước và tất cả những con thác hiểm trở. Nắm bắt được trận đồ binh pháp của thần sông, thần đá. Thuộc làu quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở. Đặc biệt, ông còn chỉ huy được các cuộc vượt tác một cách tài tình biết rõ từng cửa sinh, cửa tử mà vượt qua.


Nguyễn Tuân miêu tả ông lái đò như một vị tướng hiên ngang "tả xung hữu đột" trước muôn trùng sóng nước của sông Đà. Ông là người rất dũng cảm biết chịu cái đau của thể xác do vật lộn với sóng to gió lớn để chiến thắng thác dữ bằng những động tác táo bạo và vô cùng chuẩn xác. Ta thấy ông lái đò được xây dựng như một nghệ sĩ thực thụ chứ không phải là một người lái đò bình thường.


Cả hai nhân vật Huấn Cao và ông lão lái đò đều được xây dựng bằng biện pháp lý tưởng hóa. Xuất phát từ cơ sở cái nhìn độc đáo của nhà văn Nguyễn Tuân. Ông nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ có thể làm nổi bật lên những vẻ đẹp phi thường trong tài năng, cốt cách của họ. Nhà văn đã đặt hai nhân vật vào những tình huống đầy thử thách để giúp họ bộc lộ được phẩm chất đáng quý của mình.


Nếu như khi xây dựng nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân sử dụng tri thức nghệ thuật thì xây dựng nhân vật ông lái đò nhà văn lại vận dụng nhiều vốn tri thức đời sống.Chính điều này đã khiến cho ngòi bút Nguyễn Tuân thuyết phục được nhiều đối tượng độc giả.Những tác phẩm văn chương của ông không chỉ đẹp về mặt ngôn từ còn có giá trị nghệ thuật rất đặc sắc mà hậu thế phải công nhận.

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 3
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 3
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 3
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 3

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 2

Nguyễn Tuân là một người nghệ sĩ tài hoa, ông có sở trường về tùy bút. Sông Đà là tập tùy bút hay nhất của Nguyễn Tuân viết về cảnh và người Tây Bắc, là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc năm 1958 của nhà văn. Ở Tây Bắc, ông sống với bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân làm đường và đồng bào các dân tộc ít người. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã mang lại cho Nguyễn Tuân nguồn cảm hứng sáng tạo dồi dào. Phong cảnh Tây Bắc dưới ngòi bút Nguyễn Tuân vừa hùng vĩ uy nghiêm, vừa tuyệt vời, thơ mộng. Trong bài Người lái đò sông Đà rút từ tập tùy bút Sông Đà, nhà thơ không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn hết lời ngợi ca vẻ đẹp của con người Tây Bắc, nhất là những người lái đò trên con sông dữ dội và thơ mộng ấy.


Trong tùy bút, hình ảnh sông Đà hiện lên thật hung dữ: “Lúc này nước sông Đà reo như đun sôi lên một trăm độ muốn hất tưng đi một cái thuyền đang phải đóng vai một cái nắp ấm của một ấm nước sôi khổng lồ. Ngấn mạn thuyền thấp hơn ngấn nước tư vi bên ngoài, cạp mui thuyền cắm ngập dưới ngấn nước đang sôi trắng lên. Mặt sông cũng có ổ gà như mặt đường kạn, đi vào ổ gà sông là thuyền bị giật xuống bị dồn lên. Đã gọi là thác, tức là chỗ khúc sông phức tạp đó nhiều luồng nước. Có luồng nước đi lầm vào thì chết ngay, có luồng nước đi vào đúng luồng rồi nhưng mà không trúng tim luồng thì cũng vẫn có thể là thập tử nhất sinh như thường.. ”.


Những hình ảnh sông Đà hiện lên không kém phần thơ mộng, trữ tình: “Tôi có bay tạt qua sông Đà mấy lần, và thấy đó cũng là thêm cho mình một góc độ nhìn một cách nhìn về con Tây Bắc hung bạo và trữ tình.. “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gấm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bừa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về. Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phết vào bản đồ...”.


Hình ảnh con sông Đà vừa “hung bạo và trữ tình” là cái nền để người lái đò xuất hiện. Ông lái đò là người anh hùng sông nước: trong cuộc chiến đấu gay go với con sông dữ, ông là người chỉ huy tài ba, trí dũng, can trường, Vượt qua hết các vực xoáy, luồng chết, cửa tử,... để đưa con đò đến nơi sóng yên nước lặng. Về tư thế: “ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình”, về phong thái: “tỉnh táo, tự tin., cố nén vết thương do sóng nước gây ra”, về hành động: “hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái”, “đánh đòn tỉa”, “đánh đòn âm vào chỗ hiểm”. Sau Khi “phá xong cái trùng vi thạch trận, vòng thứ nhất”, ông không một phút “nghỉ tay nghỉ mắt”, phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn “chiến thuật”. Khi nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông “ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy”. Thế là những luồng tử đã “bỏ hết lại sau thuyền. Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh”. Sau đó, ông bước vào trận chiến với “một trùng vây thứ ba”. Ông liền “phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa” có bọn đá hậu vệ của con thác. Rồi “vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được”. Thế là hết thác. Sóng nước lại thanh bình.


Hơn nữa, ông lái đò còn là nghệ sĩ tài hoa. Trong nghề chèo đò vượt thác, ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở. Ở vòng đầu lũ đá ấy đã mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngọn sông nhưng ông đã thuộc lòng các cửa này. Ở vòng thứ hai, cửa tử tàng lên đê đúng lừa con thuyền của ông vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn nhưng ông vẫn cứ hiểu được điều nguy hiểm ấy. Ông khám phá ra cách chinh phục chúng: cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ. Khi bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liên xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử, nhờ nhớ mặt bọn này nên đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến, ở trùng vây cuối cùng, mặc dù ít cửa hơn nhưng ông nhận ra rằng ở bên phải bên trái đều là luồng chết cả, lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Cho nên, ông dùng đòn “phóng thẳng”. Thế là ông chiến thắng trọn trong cuộc đi qua cửa ải nước đủ tướng dữ, quân tợn vừa rồi. Đúng như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét, ông lái đò là một “tay lái ra hoa”.


Còn cô lái đò là một người phụ nữ Việt Nam yêu nước tha thiết, đảm đang, tháo vát, tâm hồn dạt dào cảm xúc và tràn ngập chất thơ: “..Một buổi chiều Quỳnh Nhai khác, tôi lại tìm đến một cô lái đò đã từng chở đò dọc đưa gạo kháng chiến từ Quỳnh Nhai về thác Tà Hè đổ lên kho quân lương. Cô lái đò châu Quỳnh Nhai giảng cho tôi hiểu biết thêm về ý nghĩa kiến trúc của cái thuyền then vuốt đuôi én trên sông Đà: “Các anh bảo thuyền giống con cá, bảo cái thuyền như một con cá nó quẫy mạnh đuôi trên mặt sông thì cùng được thôi. Chúng em chỉ biết cái đuôi thuyền nó vẫy lên cao như thế để có cái chỗ mà treo cái bu gà. Gà sống này, con nào đẹp lông và gái hay, thì phải mua đến mười đồng bạc mới. Con gà sống là cái đồng hồ của người lái đò sông Đà đấy. Đi đường xa, qua bờ này bến khác, có tiếng gà gáy đem theo, nó đỡ nhớ nương ruộng bản mường mình. Hai bên bờ sông Đà, ai ai cũng biết hát cả đấy. Đang phát nương, nhìn xuống dòng sông Đà mà thấy thuyền các em đi qua, là người phụ nữ Thái chúng em đều hát gửi xuống một hai câu và có khi hát cả một bài. Hồi Pháp chiếm đóng, tiếng hát của phụ nữ đều lánh xa bờ xa bến. Nhiều tiếng hát chạy xa lên tận đỉnh núi. Nay hòa bình, hết địch rồi tiếng hát mới lại xuống dần tới mặt bến...”.


Nhìn chung, nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Tuân rất tài hoa. Nhà văn lược bỏ hầu hết các chi tiết về đời tư của ông lái đò, cô lái đò để đi sâu khắc họa ngoại hình, hành động của nhân vật.


Chúng ta thử so sánh nhân vật người lái đò với nhân vật Huấn Cao (Chữ người tử tù). Nhân vật Huấn Cao trong truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là một con người tài hoa, khí phách hiên ngang bất khuất, “thiên lương” trong sáng. Huấn Cao viết chữ rất đẹp: “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm(...). Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời”. Trong thị hiếu thẩm mỹ của cổ nhân, từ Trung Hoa đến Việt Nam, viết chữ đẹp là một thủ pháp nghệ thuật và chơi chữ đẹp là một thú chơi cao khiết, tao nhã. Bởi vậy, qua những băn khoăn, tính toán, mưu mẹo, biệt đãi, nhẫn nhục, đau khổ, hốt hoảng, hi vọng, tuyệt vọng, hồi hộp, lo sợ, thành kính của viên quản ngục thì cái tài hoa quý hiếm của nhân vật Huấn Cao càng được tôn lên đỉnh cao chói lọi.

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 2
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 2
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 2
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 2

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 4

Nguyễn Tuân (1910-1987) là một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp. Trước cách mạng, ông quan niệm cái đẹp chỉ có trong quá khứ "Vang bóng một thời" và tài hoa nghệ sĩ chỉ có ở những con người xuất chúng của thời trước còn vương sót lại. Còn sau cách mạng, ông không đối lập quá khứ với hiện tại và cái đẹp có cả ở quá khứ, hiện tại, đặc biệt là phẩm chất tài hoa có thể có ở cả nhân dân đại chúng. Qua việc phân tích hai nhân vật ông Huấn Cao trong "Chữ người tử tù" và nhân vật ông Lái đò trong "Người lái đò sông Đà", chúng ta cũng có thể thấy rõ điều đó.


Chữ người tử tù" là một truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Tuân viết trước cách mạng (1940) rút từ tập "Vang bóng một thời" . Đây là truyện ngắn có nội dung tư tưởng sâu sắc và có nhiều thành công về phương diện nghệ thuật. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật bộc lộ tập trung trong hình tượng nhân vật Huấn Cao.


Cũng như các nhân vật trong "Vang bóng một thời", vẻ đẹp của Huấn Cao trước hết là vẻ đẹp của con người tài hoa, nghệ sĩ. Phẩm chất tài hoa nghệ sĩ này được biểu hiện rõ nhất là ở cái tài viết chữ đẹp. Một thời Hán học, cha ông ta viết chữ Nho, một loại chữ giàu tính tạo hình. Các nhà Nho xưa viết chữ để bộc lộ cái tâm, cái chí, viết chữ đã trở thành một môn nghệ thuật gọi là thư pháp. Và Huấn Cao là một nghệ sĩ rất mực tài hoa trong nghệ thuật này "Tài viết chữ rất nhanh và đẹp" của ông nổi tiếng khắp cả tỉnh Sơn .Ngay cả viên quản ngục của một huyện nhỏ vô danh cũng biết: "Chữ ông đẹp lắm, vuông lắm...có được chữ ông Huấn Cao mà treo trong nhà là có một vật báu trên đời". Cho nên "Sở nguyện của viên quản ngục này là có một ngày kia treo ở nhà riêng một câu đối do tay ông Huấn Cao viết". Để có được chữ của Huấn Cao, viên quản ngục không những phải dụng công, phải nhẫn nhục, mà còn phải liều mạng. Bởi vì biệt đãi Huấn Cao, một kẻ tử tù là một việc làm nguy hiểm, có khi phải trả giá bằng tính mạng của mình.


Huấn Cao còn là con người có thiên lương trong sáng, cao đẹp. Nghĩa là Huấn Cao rất giàu chữ tâm. Huấn Cao có tài viết chữ, nhưng không phải ai ông cũng cho chữ. Ông không bao giờ ép mình cho chữ vì vàng ngọc, hay quyền thế. Ông chỉ trân trọng những ai biết yêu quý cái đẹp, cái tài. Cho nên, suốt đời Huấn Cao chỉ mới viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân mà thôi. Ông tỏ thái độ khinh bạc ra mặt viên quản ngục vì tưởng rằng viên quản ngục có âm mưu đen tối gì, khi thấy viên quan ấy biệt đãi mình. Rồi ông "Cảm tấm lòng biệt nhỡn liên tài" của quản ngục và thơ lại, khi biết họ thành tâm xin chữ. Huấn Cao quyết không phụ tấm lòng của họ nên mới diễn cảnh cho chữ trong nhà lao, được tác giả gọi là "Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có"


Huấn Cao còn đẹp hơn nữa ở phẩm chất bất khuất, hiên ngang. Đẹp ở phẩm chất tài hoa, nghệ sĩ, có thiên lương, chữ tâm trong sáng, cao đẹp, Huấn Cao còn đẹp hơn nữa ở phẩm chất bất khuất, hiên ngang của một bậc anh hùng hào kiệt. Huấn Cao dám chống lại triều đình mà ông căm ghét, khinh bỉ. Dù chí lớn không thành, tư thế Huấn Cao bao giờ cũng hiên ngang, bất khuất. Bị dẫn vào huyện ngục, ông không chút run sợ trước những kẻ đang nắm giữ vận mệnh của mình. Ông lừng lững dẫn sáu đồng chí tù, hiên ngang bước vào nhà lao. Giữa chốn lao tù đầy tử khí, ông vẫn thản nhiên nhắm rượu thịt do thơ lại mang đến coi "Như cái việc ông vẫn làm trong cái hứng bình sinh". Và ông đã sẵn sàng trả lời viên quản ngục bằng những câu hết sức cao ngạo, dù biết rằng có thể sẽ bị những trận đòn báo thù khủng khiếp. Là một tử tù chỉ đợi ngày ra pháp trường, vậy mà Huấn Cao vẫn hiện lên trong tư thế ung dung, đĩnh đạc đường hoàng, ngang tàng kiêu dũng của một bậc anh hùng "Chọc trời khuấy nước mặc dầu"; "Dọc ngang nào biết trên đầu có ai". Tuy nhiên đây là một anh hùng thất trận, một tử tù.

.

Nhân vật Huấn Cao bộc lộ lý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Tuân: Sự thống nhất của cái tài, cái tâm và khí phách anh hùng. Qua nhân vật này, Nguyễn Tuân muốn biểu lộ niềm tin bất diệt vào những giá trị cao quý của con người và sức mạnh kỳ diệu của cái đẹp, đồng thời cũng bày tỏ tấm lòng yêu nước thầm kín của mình. Vì thế, Huấn Cao đã trở thành biểu tượng cho sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp, cái cao cả đối với cái phàm tục, dơ bẩn, của khí phách hiên ngang đối với thói quen cam chịu nô lệ.


Nhân vật Huấn Cao là một nhân vật của truyện ngắn được xây dựng theo bút pháp lãng mạn: Để làm nổi bật vẻ đẹp Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật vào trong một tình huống độc đáo: Cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và quản ngục. Đó là cuộc gặp gỡ giữa tử tù với quan coi ngục, nhưng cũng là cuộc hội ngộ kỳ lạ giữa những kẻ "Liên tài tri kỉ" Khắc hoạ hình tượng Huấn Cao, để làm nổi bật sự chiến thắng của cái tài, cái đẹp, cái tâm và khí phách hiên ngang, Nguyễn Tuân sử dụng triệt để sức mạnh của "Nguyên tắc tương phản đối lập của bút pháp lãng mạn". Ở truyện ngắn này, nhà văn cũng đã thể hiện cái tài dựng cảnh, dựng người với ngôn ngữ cổ kính, trang trọng, tinh tế.


Tuỳ bút "Người lái đò sông Đà" là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Tuân viết sau Cách mạng, được in trong tập "Sông Đà" (1960). Ở tuỳ bút này, người lái đò sông Đà là một hình tượng độc đáo, hấp dẫn mang rõ dấu ấn phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. Trước hết ông lái đò là người rất mực tài trí, dũng cảm trong những chuyến vượt thác đầy hiểm nguy. Để làm nổi bật phẩm chất này, Nguyễn Tuân đã có dụng ý nghệ thuật sâu xa là để cho người lái đò xuất hiện trên một hoàn cảnh đầy thử thách khốc liệt. Nguyễn Tuân khẳng định "Ông muốn ghi cái đoạn này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà". Nguyễn Tuân đã mô tả một cách chân thật vừa trân trọng, vừa yêu thương, vừa cảm phục nhân vật ông lái đò vô cùng hiên ngang, trí dũng trong cuộc chiến đấu với những con sóng, con thác đầy hung dữ, nguy hiểm. Cuộc vượt thác, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân diễn ra như một trận đánh dữ dội có nhiều hồi, nhiều đợt, mỗi đợt lại có những thử thách ác liệt khác nhau, dòng sông bày ra những thạch trận hiểm hóc khác nhau: "Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục trong lòng sông...để vồ lấy con thuyền. Đá bày ra thạch trận trên sông với những bồng chìm và pháo đài nổi, phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác". Kho từ vựng giàu có và vốn kiến thức văn hoá khoa học phong phú, uyên bác như quân sự, võ thuật, thể dục thể thao, điện ảnh...của Nguyễn Tuân được dịp huy động để miêu tả cuộc thuỷ chiến ác liệt giữa người lái đò và sóng thác sông Đà "Sóng nước thúc gối vào bụng và hông thuyền...có lúc chúng đội cả thuyền lên...sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất". Có lúc tưởng như ông lái đò sẽ bị con thuỷ quái sông Đà vô cùng hung bạo ấy nuốt chửng. Nhưng ông lái đò vẫn không hề nao núng, trái lại vẫn bình tĩnh chủ động chiến đấu một cách dũng cảm đầy mưu trí như một vị chỉ huy tài trí tuyệt vời, điều khiển con thuyền lần lượt vượt qua các thác ghềnh như "Phá cái trận đồ bát quái của dòng sông hung bạo"..."Dòng nước hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông Đà". Nhưng người lái đò vẫn "Cưỡi lên thác sông Đà...đến cùng như là cưỡi hổ".


Người lái đò tài hoa tuyệt vời. Ông lái đò còn là người rất mực tài hoa, có phong thái ung dung, pha chút nghệ sĩ. Sóng, thác sông Đà rất khắc nghiệt, chỉ cần người lái đò một phút thiếu chính xác, một tích tắc thiếu bình tĩnh, nhỡ tay, hoa mắt là có thể phải trả giá bằng cả chính sinh mệnh của mình. Nhưng sóng, thác sông Đà dù có hung dữ đến đâu, cũng bị khuất phục trước người lái đò thời nay. Bởi người lái đò là một nghệ sĩ có nghệ thuật chở đò kỳ diệu. Nghệ thuật ấy được biểu hiện rõ nhất ở khả năng nắm chắc quy luật tất yếu của sông Đà, nhờ thế mà người lái đò trở thành người tự do, người chiến thắng. Ông lái đò đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá, thuộc lòng các luồng sinh, luồng tử mà chủ động trong mọi tình huống. Lúc thì "Ông cưỡi thác nắm lấy bờm sóng mà phóng nhanh qua cửa tử" lúc lại "Ghì cương đè sấn lên mà chặt đôi con thác để mở đường tiến". Thế là, bằng những động tác nhuần nhuyễn hoàn hảo rất tinh thông trong nghề nghiệp của mình, ông lái đò đã lái con thuyền "như một mũi tên tre xuyên qua hơi nước", xuyên qua biết bao ghềnh thác hiểm nghèo của dòng sông hung bạo này. Nguyễn Tuân gọi người lái đò của mình có "tay lái ra hoa" là như vậy. Người lái đò trở thành một người nghệ sĩ, một người anh hùng chiến thắng thiên nhiên.


Ngày xưa Nguyễn tuân bị xem là nhà văn có quan điểm duy mỹ. Ngày nay ông hướng ngòi bút của mình đến những con người lao động bình thường đang âm thầm cống hiến cho đất nước. Ông phát hiện ra nét tài hoa nghệ sĩ của họ được thể hiện ngay trong công việc lao động vô cùng nguy hiểm nhưng cũng vô cùng cao cả của mình. Nguyễn Tuân gọi đó là "Cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí con người Tây Bắc". Qua đây, Nguyễn Tuân muốn phát biểu một quan niệm: người anh hùng không chỉ xuất hiện trong chiến đấu, mà còn xuất hiện trong cuộc sống lao động bình thường.


Tóm lại Huấn Cao là kiểu nhân vật tiêu biểu cho bút pháp lãng mạn của Nguyễn Tuân trước CM tháng tám; Còn người lái đò là kiểu nhân vật tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Tuân sau cách mạng. Qua đây, ta thấy Nguyễn Tuân xứng đáng là một nhà văn suốt đời mải mê đi tìm cái đẹp, ca ngợi cái đẹp và không ngừng sáng tạo, bao giờ ông cũng tạo được cho mình một nét phong cách độc đáo hấp dẫn.

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 4
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 4
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 4
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 4

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 1

Nguyễn Tuân là một người nghệ sĩ tài hoa, ông có sở trường về tùy bút. Sông Đà là tập tùy bút hay nhất của Nguyễn Tuân viết về cảnh và người Tây Bắc, là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc nãm 1958 của nhà văn. Ở Tây Bắc, ông sống với bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân làm đường và đồng bào các dân tộc ít người. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã mang lại cho Nguyễn Tuân nguồn cảm hứng sáng tạo dồi dào. Phong cảnh Tây Bắc dưới ngòi bút Nguyễn Tuân vừa hùng vĩ uy nghiêm, vừa tuyệt vời, thơ mộng. Trong bài Người lái đò sông Đà rút từ tập tùy bút Sông Đà, nhà thơ không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn hết lời ngợi ca vẻ đẹp của con người Tây Bắc, nhất là những người lái đò trên con sông dữ dội và thơ mộng ấy.


Vẻ đẹp của nhân vật người lái đò trong bài tùy bút này được thể hiện ở nhiều góc cạnh khác nhau. Trong tùy bút, hình ảnh sông Đà hiện lên thật hung dữ: “Lúc này nước sông Đà reo như đun sôi lên một trăm độ muốn hất tung đi một cái thuyền đang phải đóng vai một cái nắp ấm của một ấm nước sôi khổng lồ. Ngấn mạn thuyền thấp hơn ngấn nước tứ vi bên ngoài, cạp mui thuyền cắm ngập dưới ngấn nước đang sôi trắng lên. Mặt sông cũng có ổ gà như mặt đường cạn, đi vào ổ gà sông là thuyền bị giật xuống bị dồi lên. Đã gọi là thác, tức là chỗ khúc sông phức tạp đó nhiều luồng nước. Có luồng nước đi lầm vào thì chết ngay, có luồng nước đi vào đúng luồng rồi nhưng mà không trúng tim luồng thì cũng vẫn có thể là thập tử nhất sinh như thường...”.


Nhưng hình ảnh sông Đà hiện lên không kém phần thơ mộng, trữ tình: “Tôi có bay tạt qua sông Đà mấy lần, và thấy đó cũng là thêm cho mình một góc độ nhìn một cách nhìn về con Tây Bắc hung bạo và trữ tình...”; “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về. Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng sông Đà là đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phết vào bản đồ...”.


Hình ảnh con sông Đà vừa “hung bạo và trữ tình” là cái nền để người lái đò xuất hiện. Ông lái đò là người anh hùng sông nước: trong cuộc chiến đấu gay go với con sông dữ, ông là người chỉ huy tài ba, trí dũng, can trường. Vượt qua hết các vực xoáy, luồng chết, cửa tử,... để đưa con đò đến nơi sóng yên nước lặng. Về tư thế: “ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình”, về phong thái: “tỉnh táo, tự tin, cố nén vết thương do sóng nước gây ra”, về hành động: “hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái”, “đánh đòn tỉa”, “đánh đòn âm vào chỗ hiểm”. Sau khi “phá xong cái trùng vi thạch trận, vòng thứ nhất”, ông không một phút “nghỉ tay nghỉ mắt”, phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn “chiến thuật". Khi nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông “ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy”. Thế là những luồng tử đã “bỏ hết lại sau thuyền. Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh”. Sau đó, ông bước vào trận chiến với “một trùng vây thứ ba”. Ông liền “phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa” có bọn đá hậu vệ của con thác. Rồi “vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được”. Thế là hết thác. Sóng nước lại thanh bình.


Hơn nữa, ông lái đò còn là nghệ sĩ tài hoa. Trong nghề chèo đò vượt thác, ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở. Ở vòng đầu lũ đá ấy đã mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngọn sông nhưng ông đã thuộc lòng các cửa này. Ớ vòng thứ hai, cửa tử tăng lên để đúng lừa con thuyền của ông vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn nhưng ông vẫn cứ hiểu được điều nguy hiểm ấy. Ông khám phá ra cách chinh phục chúng: cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ. Khi bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử, nhờ nhớ mặt bọn này nên đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến, ở trùng vây cuối cùng, mặc dù ít cửa hơn nhưng ông nhận ra rằng ở bên phải bên trái đều là luồng chết cả, lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Cho nên, ông dùng đòn “phóng thẳng”. Thế là ông chiến thắng trọn trong cuộc đi qua cửa ải nước đủ tướng dữ, quân tợn vừa rồi. Đúng như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét, ông lái đò là một “tay lái ra hoa”.


Còn cô lái đò là một người phụ nữ Việt Nam yêu nước tha thiết, đảm đang, tháo vát, tâm hồn dạt dào cảm xúc và tràn ngập chất thơ: “...Một buổi chiều Quỳnh Nhai khác, tôi lại tìm đến một cô lái đò đã từng chở đò dọc đưa gạo kháng chiến từ Quỳnh Nhai về thác Tà Hè đổ lên kho quân lương. Cô lái đò châu Quỳnh Nhai giảng cho tôi hiểu biết thêm về ý nghĩa kiến trúc của cái thuyền then vút đuôi én trên sông Đà: “Các eng bảo thuyền giống con cá, bảo cái thuyền như một con cá nó quẫy mạnh đuôi trên mặt sông thì cũng được thôi. Chúng em chỉ biết cái đuôi thuyền nó vẫy lên cao như thế để có cái chỗ mà treo cái bu gà. Gà sống này, con nào đẹp lông và gáy hay, thì phải mua đến mười đồng bạc mới. Con gà sống là cái đồng hồ của người lái đò sông Đà đấy. Đi đường xa, qua bờ này bến khác, có tiếng gà gáy đem theo, nó đỡ nhớ nương ruộng bản mường mình. Hai bên bờ sông Đà, ai ai cũng biết hát cả đấy. Đang phát nương, nhìn xuống dòng sông Đà mà thấy thuyền các eng đi qua, là người phụ nữ Thái chúng em đều hát gửi xuống một hai câu và có khi hát cả một bài. Hồi Pháp chiếm đóng, tiếng hát của phụ nữ đều lánh xa bờ xa bến. Nhiều tiếng hát chạy xa lên tận đỉnh núi. Nay hòa bình, hết địch rồi tiếng hát mới lại xuống dần tới mặt bến...”.


Nhìn chung, nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Tuân rất tài hoa. Nhà văn lược bỏ hầu hết các chi tiết về đời tư của ông lái đò, cô lái đò để đi sâu khác họa ngoại hình, hành động của nhân vật. Chúng ta thử so sánh nhân vật người lái đò với nhân vật Huấn Cao ( Chữ người tử tù). Nhân vật Huấn Cao trong truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là một con người tài hoa, khí phách hiên ngang bất khuất, “thiên lương” trong sáng. Huấn Cao viết chữ rất đẹp: “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm (...). Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời”. Trong thị hiếu thẩm mỹ của cố nhân, từ Trung Hoa đến Việt Nam, viết chữ đẹp là một thủ pháp nghệ thuật và chơi chữ đẹp là một thú chơi cao khiết, tao nhã. Bởi vậy, qua những băn khoăn, tính toán, mưu mẹo, biệt đãi, nhẫn nhục, đau khổ, hốt hoảng, hi vọng, tuyệt vọng, hồi hộp, lo sợ, thành kính của viên quản ngục thì cái tài hoa quý hiếm của nhân vật Huấn Cao càng đươc tôn lên đỉnh cao chói lọi.


Về khí phách, Huân Cao không chịu vào luồn ra cúi, khòng chịu sống cảnh “cá chậu chim lồng”, ông đi làm giặc triều đình. Đến khi bị bắt đưa vào ngục tử tù, ông không tỏ ra mảy may sợ hãi hay hối tiếc. Cổ mang gông, chân vướng xiềng, bước vào ngục tử tù chờ ngày ra pháp trường, ông vẫn hiên ngang, đường hoàng như bước đi trên đường cái. Chính cái khí phách khác thường của ông đã làm cho ngục quan - một người đầy uy quyền đối với ông - phải tỏ ra “khép nép” khi vào gặp ông tại nhà lao. “Thiên lương” của ông vô cùng trong sáng: cái tài của Huấn Cao chính là nơi phát lộ cái tâm của ông. Tiền bạc, uy quyền không hề lung lạc được ông: “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”. Ông đúng là một nhân cách lí tưởng: “Bần tiện bất năng di, phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất”.


Vì vậy, khi chưa hiểu được các phẩm chất tốt đẹp của ngục quan (biết trân trọng, thật lòng yêu cái đẹp dù phải sống trong hoàn cảnh xấu xa) thì Huấn Cao có thái độ cứng rắn với ông. Đến lúc cảm được “cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của ngục quan, Huấn Cao mềm lòng thốt lên: “Nào ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Và Huấn Cao sẵn sàng cho ngục quan những dòng chữ cuối cùng của một đáng tài hoa, một bậc anh hùng nghĩa sĩ trong một cảnh tượng “xưa nay chưa từng có ở chốn lao tù”: “Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Trong một không khí tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, làm họ dụi mắt lia lịa. Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đậm tô nét chữ trên một tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phỉến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực. Thay bút con, đề xong lạc khoản, ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc bảo:


“Ỏ đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo bức lụa trắng với những nét vuông tươi tắn nó nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu mà tốt và thơm quá vậy. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?... Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi”. Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo. Ba người nhìn bức châm, rồi lại nhìn nhau. Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.


Đoạn văn tả cảnh Huấn Cao cho chữ trên đây bộc lộ trọn vẹn nhất vẻ đẹp sáng ngời của nhân cách Huấn Cao. Trong không khí trang trọng, thiêng liêng, trong cảm hứng sáng tạo mãnh liệt, mê say, ông Huấn Cao đã quên hẳn gông xiềng, nhà ngục chật hẹp, tối tăm, ẩm ướt, quên cả cái chết đang chờ đợi mình. Tâm hồn ông hoàn toàn hướng tới sư bất tử của cái đẹp, cái “thiên lương” trong sáng. Lời khuyên nhủ của ông đối với quản ngục đã thể hiện quan niệm biện chứng của ông giữa cái tâm và cái tài, giữa cái đẹp và cái thiện. Trong nhân sinh quan cao vời của ông, người nghệ sĩ say mê cái đẹp trước hết phải là người phải biết đặt “thiên lương” lên vị trí tột cùng. Lời di huấn thiêng liêng ấy của Huấn Cao về nghệ thuật, về đạo lí làm người đã được quan ngục bái lĩnh bằng tất cả tấm lòng chân thực của mình và người đời trân trọng lắng nghe.


Có thế nói, cảnh ông Huấn Cao cho chữ là sự chiến thắng kiêu hùng của ánh sáng đối với bóng tối, của “thiên lương” đối với tội ác, của cái chân - thiện - mỹ đốì với cái xấu xa, thô bỉ. Hơn nữa, đó còn là biểu tượng của việc tài hoa lên ngôi trong cảnh lao tù. Người tử tù đang tiến dần đến cõi chết, nhưng còn tài hoa của họ đang hăng hái, ung dung bước vào cõi bất tử, vĩnh hằng. Nhìn chung, vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao là vẻ đẹp lãng mạn, có sức chinh phục, cảm hóa mãnh liệt đôi với những con người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”.


Từ việc tìm hiểu vài nét về vẻ đẹp hình tượng của nhân vật Huấn Cao chúng ta dễ thấy được chỗ thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám. Về nét chung (tính thống nhất): Nguyễn Tuân vẫn tiếp cận con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ. Ông vẫn là ngòi bút tài hoa, uyên bác, lịch lãm, vận dụng tri thức tổng hợp của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau trong miêu tả và biểu hiện: điện ảnh, hội họa, điêu khắc.. Ông vẫn sử dụng vốn ngôn từ hết sức tinh lọc, phong phú, độc đáo, giàu có. Khả năng tổ chức câu văn xuôi đầy giá trị tạo hình, có nhạc điệu trầm bổng, biết co duỗi nhịp nhàng. Mặt khác, các phép ví von, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tượng trưng, đối ngữ, liệt kê... được nhà văn phối hợp vô cùng điêu luyện, về nét riêng (tính khác biệt): Trước Cách mạng tháng Tám, con người Nguyễn Tuân hướng tới và ca ngợi là những “con người đặc tuyển, những tính cách phi thường”. Các nhân vật ông Nghè, ông Cử. ông Huấn Cao ( Vang bóng một thời), ông Thông phu, cô đào Tám (lư đồng mắt cua) là những minh chứng sinh động. Sau Cách mạng tháng Tám, nhân vật tài hoa nghệ sĩ của Nguyễn Tuân có thể tìm thấy ngay trong cuộc chiến đấu, lao động hàng ngày của nhân dân. Đó là anh bộ đội Tây Bắc ngụy trang bằng hoa đào, đuổi giặc giữa rừng đào.


Đó là người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu trồng đào trong xà lim hay cô nhân quán Quảng Bình ngồi gác máy bay dưới gốc hoàng mai. Đó là những cô gái lái đò sông Đà trên những chiếc thuyền đuôi én cao vút... Đặc biệt là ông lái đò sông Đà vượt thác sông Đà “tay lái ra hoa”. Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân là một người tài tử, thích chơi “ngông”, mắc cái bệnh ham mê thanh sắc, thích chiêm ngưỡng, chắt chiu cái Đẹp và nhấm nháp những cảm giác mới lạ. Khi ấy, ở Nguyễn Tuân, hầu như cái gì cùng trở thành “chủ nghĩa”: chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa duy mĩ, chủ nghĩa xê dịch, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa cảm giác, chủ nghĩa tài tử, chủ nghĩa ẩm thực..., và bao trùm lên tất cả là chủ nghĩa độc đáo. Sau Cách mạng tháng Tám, nhà văn nhạy cảm với con người mới, cuộc sống mới từ góc độ thẩm mĩ của nó. Nhưng không còn là một Nguyễn Tuân “nghệ thuật vị nghệ thuật” nữa. Ông đã nhìn ra cái đẹp của con người dưới góc độ của những vấn đề xã hội (Xòe). Cụ thể là cái đẹp gắn với nhân dân lao động, với cuộc sống đang nảy nở sinh sôi; đồng thời lên án, tố cáo chế độ cũ, khẳng định bản chất nhân văn hóa của chế độ mới.


Qua Người lái đò sông Đà và nhân vật người lái đò, ta thấy nổi lên một Nguyễn Tuân tài hoa độc đáo, uyên thâm, tâm huyết, có tấm lòng yêu thương, tự hào da diết về vẻ đẹp của thiên nhiên, con người miền Tây Bắc xa xôi của Tổ quốc. Ca ngợi sự gan góc, thông minh, dũng cảm, kiên cường, tài hoa nhân hậu của con người Việt Nam trong công cuộc lao động xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao. Người lái đò sông Đà thật sự là một bài ca lãng mạn, trong sáng, hào sảng về lao động và về vẻ đẹp của con người trong lao động.

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 1
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 1
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 1
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 1

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 5

Nguyễn Tuân được biết đến là “một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa lớn” với cá tính mạnh và ngông. Ông là nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo, là người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Và chính cái nhìn độc đáo về con người như vậy, ông đã xây dựng hình tượng nhân vật của mình ở chất tài hoa nghệ sĩ mà tiêu biểu phải nhắc đến hai nhân vật: Huấn Cao (Chữ người tử tù) và người lái đò (Người lái đò sông Đà). Đây là hai nhân vật được khắc họa trong hai giai đoạn sáng tác khác nhau (trước và sau Cách mạng tháng Tám) của nhà văn. Ở hai nhân vật này đều có sự thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân.


Trước hết, điểm nhất quán đầu tiên ở Huấn Cao và ông lái đò đó là họ đều được tiếp cận ở góc độ văn hóa nghệ thuật, theo tiêu chuẩn tài hoa nghệ sĩ. Nhân vật này đều là những con người nghệ sĩ tài hoa trong nghề nghiệp của mình, họ đều là những anh hùng kiên cường, bất khuất. Và đặc biệt hơn tâm hồn họ luôn trong sáng và cao đẹp. Huấn Cao mang vẻ đẹp thiên lương, nổi loạn không vì tư lợi cá nhân mà vì dân, vì nước, mục đích thể hiện một cái khao khát xây dựng công bằng, xóa sạch mọi bất công, ngang trái trong cuộc đời. Không vì vàng ngọc quyền thế mà ép mình viết chữ và chỉ cho chữ những người tri âm, tri kỉ trong đó có viên quan cai ngục. Khi Huấn Cao nhìn thấy tấm lòng trong sáng viên quản ngục, đã sẵn sàng nhận lỗi và cho chữ “thiếu một chút nữa ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. Huấn Cao quan điểm sống riêng đó là phải sống sao cho xứng đáng với những tấm lòng, phụ tấm lòng của người khác là điều không thể tha thứ. Ông thật sự là một nhân cách cao đẹp kết hợp giữa tâm và tài. Cũng giống như Huấn Cao, ông lái đò cũng được khắc họa chất vàng mười trong tâm hồn nhưng nó là vàng mười của người anh hùng lao động bình thường trên sông nước. Sau khi vượt qua ba chặng thác đầy nguy hiểm, nhưng ông lái đò không bàn tán một lời nào mà chỉ nói về cá anh vũ, cá dầm xanh. Đây chính là vẻ đẹp của người nghệ sĩ lớn, phẩm chất anh hùng lập nên bao chiến công phi thường nhưng lại rất đỗi bình thường. Đó cũng chính là vẻ đẹp của con người thời đại Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng xã hội mới, con người mới.


Nhưng ngay cả khi miêu tả nét tài hoa, uyên bác của họ thì Nguyễn Tuân vẫn cho thấy sự khác biệt. Đầu tiên trong cách giới thiệu hai nhân vật này, nếu như Nguyễn Tuân giới thiệu gián tiếp về Huấn Cao, nhà văn đứng ngoài cuộc, ông không đưa bất kì lời bình luận nào mà người đọc chỉ biết đến Huấn Cao qua cuộc trò chuyện với viên quan coi ngục và thầy thơ lại, đây là một con người tài hoa trong viết chữ, trong khi đó nhà văn giới thiệu ông lái đò là người “Lai Châu bạn tôi làm nghề chở đò dọc suốt sông Đà đã mười năm liền và thôi làm đò cũng đôi chục năm nay”, một sơ yếu lí lịch đầy đủ nhưng không cụ thể. Khác với Huấn Cao, ông lái đò không có một cái tên riêng. Như vậy, nếu trước Cách mạng, Nguyễn Tuân chỉ tìm thấy những bông hoa lạc lõng còn vương sót lại trong quá khứ thì sau Cách mạng, nhà văn tìm thấy những bông hoa, trong cuộc đời thật của đại bộ phận nhân dân mà tiêu biểu là ông lái đò.


Điểm khác biệt tiếp theo được thể hiện chính trong tài năng của hai nhân vật, có nghĩa là dù nhìn con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ nhưng nét tài hoa ở Huấn Cao khác với nét tài hoa ở ông lái đò. Huấn Cao được xây dựng là một người có tài thư pháp, tài viết chữ đẹp siêu phàm. Cái tài đó nức danh, nổi tiếng khắp vùng. Ông viết chữ rất nhanh và rất đẹp. Chữ của ông “vuông lắm, đẹp lắm”, có được chữ ông Huấn treo trên nhà là có được vật báu trên đời. Không xin được chữ thì đó là niềm ân hận suốt đời của viên quan cai ngục. Và tài năng ấy càng được khẳng định qua thái độ biệt đãi Huấn Cao của viên cai ngục, ông nhìn tử tù Huấn Cao bằng con mắt hiền lành, kiêng nể, sai người quét dọn phòng giam, nhẫn nại và dũng cảm để xin được chữ của Huấn Cao, cho dù Huấn Cao đã đuổi đi “người hỏi ta muốn gì ư, ta chỉ muốn nhà ngươi đừng bước chân vào đây nữa”. Tài năng của Huấn Cao được thể hiện ngay trong nét chữ của ông, đó là nét chữ nhưng cũng là nét người, nét chữ ấy không chỉ vuông, tươi tắn mà còn nói lên hoài bão tung hoành của một đời con người. Có thể khẳng định chữ viết của Huấn Cao là những tác phẩm mỹ thuật dành riêng cho những tao nhân mặc khách, những người có khiếu văn hóa thẩm mĩ và biết yêu cái đẹp. Nhưng không chỉ tài hoa với nghề viết chữ, Huấn Cao còn hiện lên là một anh hùng khí phách, hiên ngang và bất khuất. Ông dám một mình đứng lên lãnh đạo chống lại triều đình phong kiến thối nát. Khi dấy binh việc lớn không thành, dù có tài vượt ngục bẻ khóa nhưng ông cũng không chạy trốn ngược lại vẫn mang phong thái ung dung, thanh thản đến giây phút cuối cùng. Nửa tháng trời ở trong buồng giam, vẫn thản nhiên nhận rượu thịt giống như lúc bình sinh. Điều này chứng tỏ ông coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, khinh ghét cái xấu chính vì thế ông coi khinh quan cai ngục. Trước cái chết ngày mai vào kinh, pháp trường lập ở đó nhưng Huấn Cao vẫn ung dung chủ động đón nhận cái chết, dám làm dám chịu và vẫn khai sinh ra cái đẹp trong lòng của cái ác, cái xấu đang ngự trị. Đó thật sự là tính cách của người anh hùng kiên cường, bất khuất.


Khác với Huấn Cao, ông lái đò là người tài hoa, trí dũng trong nghề chở đò của mình. Ông làm nghề chở đò đã suốt mười năm liền và vô cùng am hiểu dòng sông Đà mà ông vẫn chở khách hằng ngày. Để tô đậm vẻ tài hoa trong nghề chèo đò của ông lái đò, Nguyễn Tuân đã miêu tả ba chặng vượt thác đầy thử thách. Trong chặng vượt thác thứ nhất, sóng nước Đà giang hiện lên với tính cách của loài thủy chiến, đưa ra những đòn hiểm độc nhằm “bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò”, chúng bày thiên la địa võng hò reo vang trời để uy hiếp tinh thần đối phương. Tuy nhiên, ông lái đò vẫn hiện lên là một con người trí tuệ, tài hoa khi nén cơn đau chống đỡ ngón đòn hiểm độc nhất của dòng sông, kiên cường dũng cảm vượt qua hỗn chiến dù cuộc chiến không cân sức này nhiều lúc làm ông rơi vào tình thế bị động nhưng ông vẫn phá được trùng vi thạch trận thứ nhất. Đến chặng thứ hai khi sóng nước Đà giang trở nên nham hiểm, xảo quyệt hơn, nó hiện lên như một con thú muốn đòi ăn chết con thuyền. Nhưng nhờ kinh nghiệm chèo đò và sự am hiểu về con sông Đà cùng tài năng chở đò của mình, ông đã không hề nao núng, tỉnh táo phóng đúng vào cửa sinh làm cho cái thằng đá tướng phải tiu nghỉu cái mặt. Ông lái đò như dũng sĩ tung hoành trên chiến trận, luôn luôn sáng suốt ứng phó kịp thời thay đổi chiến thuật để chế ngự dòng thác man dại, độc địa, xáo trá đó. Như vậy trong chặng thứ nhất ông lái đò ở thế thủ thì đến chặng thứ hai ông đã ở thế công để rồi đến chặng thứ ba đã làm nên chiến tích của mình, ông đã dành phần thắng trong cuộc chiến, đem lại phần thắng vinh quang cho cuộc đời mình. Đó chính là người anh hùng lao động vất vả trong cuộc sống bình thường. Ở ông lái đò, luôn ánh lên vẻ tài hoa, trí dũng, cái mà Nguyễn Tuân gọi là “chất vàng mười đã qua thử lửa”.


Như vậy qua việc so sánh hai hình tượng nhân vật Huấn Cao và ông lái đò, ta có thể thấy rằng Nguyễn Tuân luôn hướng vào những con người phi thường, khác thường. Đó phải là những con người tài hoa nghệ sĩ, mang cái nhìn văn hóa bền vững trong phong cách tiếp cận con người của Nguyễn Tuân. Nhưng qua đây ta cũng nhìn nhận được điểm khác biệt trong phong cách tiếp cận của nhà văn, nếu trước Cách mạng cái đẹp hiện lên trong sự hoài niệm, hoài cổ, nó đối lập với thực tại nghiệt ngã thì sau Cách mạng cái đẹp được nhìn trong sự hiện hữu của đời thường, trong thực tài và nó hòa nhập vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân. Nhưng cho dù có sự khác biệt đi chăng nữa thì cả hai nhân vật Huấn Cao và ông lái đò đều được thể hiện bởi một ngòi bút tài hoa và uyên bác. Tài hoa trong việc dựng người, dựng cảnh, tài hoa trong việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, những so sánh, liên tưởng táo bạo, bất ngờ; uyên bác trong việc vận dụng nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau để làm phong phú và tăng khả năng diễn tả của nghệ thuật văn chương, làm tăng khả năng tổ chức câu văn xuôi giàu tính tạo hình, vốn từ vựng phong phú.


Nhìn chung, qua việc khắc họa hai hình tượng nhân vật Huấn Cao và ông lái đò đã cho thấy sự ổn định, nhất quán trong việc tiếp cận con người của Nguyễn Tuân, đồng thời cũng thấy được sự vận động trong phong cách ở hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám. Từ đây, ta thấy được tài năng của người nghệ sĩ tâm huyết với nghề. Đó là một Nguyễn Tuân đầy cá tính, tài hoa, uyên thâm, với tấm lòng tha thiết yêu thương, trân trọng cái đẹp.

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 5
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 5
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 5
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 5

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 6

Nguyễn Tuân là tác giả lớn của văn học hiện đại Việt Nam với những thành tựu xuất sắc ở cả hai giai đoạn trước và sau năm 1945. Sáng tác của Nguyễn Tuân mang phong cách riêng độc đáo trong đó nổi bật chất tài hoa uyên bác. "Người lái đò sông Đà" là bài tùy bút xuất sắc của Nguyễn Tuân được tin trong tập "sông Đà" năm 1960. Đoạn văn "ông đò hai tay giữ mái chèo... Họ nghĩ thế lúc ngừng chèo" đã thể hiện trọn vẹn vẻ đẹp của ông đò. Khi liên tưởng đến nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn "chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân trước cách mạng, ta thấy được sự ổn định và phát triển trong cách tiếp cận con người của tác giả.


Để làm nổi bật vẻ đẹp của ông lái đò, Nguyễn Tuân đặt người lái đò trong một bối cảnh phi thường. Trùng vi thạch trận sông Đà được bố trí bằng hai lực lượng: đá và nước. Đá đã mai phục hàng nghìn năm trở thành thạch tinh, thạch quỷ, hòn nào cũng "nhăn nhìn méo mó", thái độ thì "ngỗ ngược". Nước nơi đây reo hò làm thanh viện cho đá, chúng đánh những món đòn hiểm độc nhất. Đó là một bức đại cảnh, trên đó người lái đò hiện lên đẹp vô cùng như một dũng tướng, một người nghệ sĩ với tay lái ra hoa.


Một trong những phẩm chất tiên quyết của người nghệ sĩ là anh ta phải am hiểu công việc mình làm, lĩnh vực mình hoạt động, đối tượng mình khám phá và sáng tạo. Nếu xem người lái đò là người nghệ sĩ thì đó chính là một người nghệ sĩ âm tường. "Ông đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá" và "thuộc quy luật" của dòng sông, thác đá... Bằng những chữ "binh pháp", "quy luật phục kích" Nguyễn Tuân đã biến sông, đá, nước vô tri thành loài thủy quái, thành lũ tướng dữ quân tợn. Hai chữ "thần sông thần đá", Nguyễn Tuân lại biến lũ quân hùng tợn ấy thành một thế lực siêu nhiên, siêu hình. Ông đò qua các từ "nắm chắc, thuộc" trở thành người dũng tướng làm chủ một đội quân, một lực lượng hùng hậu.


Ông đò còn hiện lên với vẻ đẹp tài hoa, trí dũng trong trận thủy chiến với sóng thác sông Đà. Vòng vây thứ nhất, sông Đà mở bốn của tử, một cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn... Ông đò hai tay "giữ vững mái chèo", hai chân "kẹp chặt lấy cuống lái", mặt " méo bệch" vì sóng táy vô cùng đau. Tiếng chỉ huy "ngắn gọn, tỉnh táo". Ông đò hiện lên vô cùng bình tĩnh, cam trường để giúp ông làm chủ con thuyền, làm điểm tựa vững chắc cho các cộng sự của mình bằng sự phòng thủ, chế ngự và ám binh bất động. Đến vòng vây thạch trận thứ hai, sông nước tăng thêm cửa tử, cửa sinh lệch về phía hữu ngạn, dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế sống...Sóng nước, thác nước sông Đà như một loài hoang thú dùng hết tốc độ, sức mạnh trong cuộc truy sát con mồi. Ông đò không chỉ nhận thức sự mạo hiểm khi cưỡi trên sóng nước sông Đà mà còn tỉnh táo chinh phục. Ông ghì cương lái, nắm buồng sóng đúng luồng, phóng nhanh vào luồng sinh. Khi gặp bọn thủy quân, đức ông "tránh, rảo bơi chèo lên", đứa ông "sấn lên, chặt đôi, mở đường tiến". Ở vòng này, ông đò tấn công cực kì linh hoạt, có cương có nhu, có công có thủ. Ở vòng vây cuối, sự hiểm ác của thác đá đã được nhà văn miêu tả trong hình ảnh ẩn dụ tài hoa về "cổng đá cánh mở cánh khép", phải trái đều là luồng chết. Nhiệm vụ của ông đò là "phóng thẳng thuyền, chọc thủng" một luồng sinh duy nhất ở ngay giữa cửa bọn đá hậu vệ trấn giữ. Hình ảnh con thuyền lao vút qua khe hẹp được miêu tả trong những câu văn ngắn cùng với sự kết hợp động từ và danh từ: "vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng..." đã thể hiện sự điêu luyện, khéo léo và sức mạnh của một tay lái "ra hoa".


Trở về với cuộc sống bình thường, ông đò lại hiện lên với vẻ đẹp ung dung, bình dị. Sau khi chiến thắng thiên nhiên hung bạo, những người lái đò lại "đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh... Chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn". Thái độ bình thản ấy càng tô đậm tầm vóc lớn lao của những người anh hùng trong cuộc sống đời thường bình dị khi họ coi việc chiến đấu và chiến thắng sông Đà hiểm ác chỉ là chuyện thường ngày.


Ngược dòng thời gian về với văn Nguyễn Tuân trước cách mạng ta thấy thấp thoáng bóng dáng của Huấn Cao trong truyện ngắn "chữ người tử tù". Đó là một con người tài hoa, khí phách và có thiên lương trong sáng, lành vững. Ông có tài viết chữ nhanh và đẹp, chữ Huấn Cao biến tên Huấn Cao thành thanh danh lẫy lừng, chữ ông Huấn còn trở thành báu vật với quản ngục. Huấn Cao còn đứng đầu đội quân phiến loạn, khí phách tỏa sáng khi nhập lao, khi nhận hung tin. Lời giãi bày với thầy thơ lại và quản ngục còn cho thấy ông Huấn là người có thiên lương trong sáng, lành vững.


Qua hình tượng ông lái đò và Huấn Cao, phong cách của Nguyễn Tuân luôn ổn định trong việc tiếp cận con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ. Tuy nhiên, nếu trước cách mạng nhà văn tìm thấy vẻ đẹp ở lớp người đặc tuyển, chỉ còn là một thời vang bóng thì sau cách mạng, tác giả trở về với nhân dân đại chúng, hiện hữu trong cuộc sống cần lao bình dị đời thường.

So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 6
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 6
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 6
So sánh hình tượng người lái đò sông Đà và nhân vật Huấn Cao bài 6

Bình luận

Có Thể Bạn Quan Tâm ?