Top 10 Loài động vật có lớp da đặc biệt nhất trong tự nhiên

Da là một trong những bộ phận quan nhất cơ thể nhưng ít khi chúng được nhắc đến. Nó không chỉ giúp các loài vật tránh ký sinh trùng và vi khuẩn mà còn đem lại cảm giác tuyệt vời với môi trường xung quanh. Lớp da của các loài động vật rất đa dạng về kích thước hay hình dáng nhưng có một số loài có lớp da vô cùng đặc biệt có 1-0-2 trên thế giới đem lại cho chủ nhân của chúng những khả năng đặc biệt. Dưới đây là những loài động vật có lớp da đặc biệt nhất trong tự nhiên.

Chuột gai Châu Phi - Lớp da có thể tự phục hồi

Một số loài có lớp dày để bảo vệ cơ thể, một số loài khác lại không, tuy nhiên loài chuột gai châu Phi lại có sự khác biệt hoàn toàn. Lớp da của chúng rất mỏng và dễ bị tổn thương do những mô liên kết dưới da rất yếu nhưng loài vật có một cách tự vệ khá đặc biệt là tự lột da mình khi bị bắt.


Ngoài khả năng tự lột da, loài chuột gai châu Phi còn có khả năng tự tái tạo lại da của bản thân giống như Wolverine. Chúng có thể tái tạo lại hoàn toàn lớp da, nang lông, tuyến mồ hôi chỉ trong một vài ngày và không để lại sẹo. Ngay cả khi gặp phải một vết thương khá nặng, chúng cũng có thể phục hồi lại một cách nguyên vẹn.


Do lớp biểu bì mềm bên dưới lớp da của loài chuột này đã giúp cho nó dễ dàng lột bỏ lớp da cũ. da của chuột gai châu Phi cho thấy nó yếu hơn khoảng 20 lần và dễ xé rách hơn 77 lần so với da của chuột bạch thí nghiệm. Đặc điểm da dễ vị xé rách của loài chuột gai châu Phi có thể giúp chúng thoát khỏi kẻ thù, như rắn, chim cú và đại bàng. Khi bị tấn công, chúng sẵn sàng bỏ lại một phần da để thoát thân


Bên cạnh đó, chuột gai châu Phi còn sở hữu khả năng tự làm lành, tái tạo da, nang lông, tuyến mồ hôi và sụn trong vòng vài ngày mà không để lại sẹo. Nếu bị thương thì đến hôm sau, vết thương đó có thể được thu nhỏ tới 64%, do đó, việc bị rách da dù lớn đến đâu cũng ảnh hưởng đến loài chuột gai. Điều đặc biệt, sau đó, chuột có thể phục hồi lại được phần da bị mất một cách nhanh chóng, trong vòng 3 ngày, mà không để lại sẹo. Sau khoảng 30 ngày thì phần long và màu da được phục hồi hoàn toàn.


Một thí nghiệm, người ta đã thử nghiệm lột khoảng 60% da trên lưng của nhưng con chuột, nhưng sau đó phần da bị mất mọc lại rất nhanh và lông cũng mọc lại ở phần ra mới tái tạo vết thương dài 4mm có thể lành trong 3 ngày, trong khi, loài chuột bạch thí nghiệm phải mất từ 5 đến 7 ngày để lành một vết thương tương tự[3] điều này cho thấy Chúng không tái tạo lại toàn bộ phần da bị mất. Chúng sử dụng khả năng co giãn của da để che vị trí bị thương nên chúng thực sự không phải tái tạo ra nhiều. Ở phần trung tâm của vết thương, vẫn còn khoảng 5% da chưa tái tạo.

Chuột gai Châu Phi - Lớp da có thể tự phục hồi
Chuột gai Châu Phi - Lớp da có thể tự phục hồi

Ngựa vằn - Lớp da chức năng xua đuổi ruồi muỗi và côn trùng

Nhiều giả thuyết cho rằng những sọc đen – trắng xen lẫn nhau trên cơ thể loài động vật này dùng để ngụy trang hay tạo ảo ảnh đánh lừa kẻ thù nhưng sự thật không phải vậy. Theo các nhà khoa học, những sọc này của ngựa vằn có chức năng xua đuổi ruồi muỗi và côn trùng. Những sọc đen trắng này sẽ khiến cho ánh sáng phản chiếu từ cơ thể ngựa vằn trở nên vô cùng khó chịu với côn trùng, và nhờ đó chúng sẽ tránh xa.


Ngoài ra, vằn sọc còn có tác dụng làm tín hiệu thị giác và nhận dạng, giúp giảm nguy cơ bị lạc đàn. Mặc dù hoa văn vằn sọc đều độc nhất đối với mỗi cá thể, ngựa vằn còn có thể nhận ra bầy đàn nhờ sọc trên người chúng. Thêm vào đó, vằn sọc còn được sử dụng để làm mát cơ thể ngựa vằn. Không khí có thể di chuyển nhanh hơn qua những sọc đen hấp thụ ánh sáng trong khi di chuyển chậm hơn qua những sọc trắng. Điều này tạo ra dòng đối lưu xung quanh giúp ngựa vằn mát mẻ hơn. Một nghiên cứu còn phân tích rằng ngựa vằn càng có nhiều sọc thường sống trong môi trường nóng hơn.


Những vằn sọc độc nhất của ngựa vằn khiến chúng trở thành một trong những loài động vật quen thuộc nhất đối với con người. Chúng xuất hiện ở nhiều kiểu môi trường sống, chẳng hạn như đồng cỏ, trảng cỏ, rừng thưa, bụi rậm gai góc, núi và đồi ven biển. Tuy nhiên những yếu tố con người khác nhau đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quần thể ngựa vằn, đặc biệt là nạn săn bắn lấy da và sự hủy hoại môi trường sống. Ngựa vằn Grevy và ngựa vằn núi đều đang bị đe dọa tuyệt chủng. Trong khi quần thể ngựa vằn đồng bằng rất đông, một phân chi của nhánh này là Quagga đã bị tuyệt chủng vào cuối thế kỷ XIX - mặc dù hiện nay có một kế hoạch gọi là Dự án Quagga đang được triển khai nhằm gây giống loài ngựa vằn có kiểu hình tương tự như Quagga theo một quá trình gọi là hồi phục giống.

Ngựa vằn - Lớp da chức năng xua đuổi ruồi muỗi và côn trùng
Ngựa vằn - Lớp da chức năng xua đuổi ruồi muỗi và côn trùng

Cá nhà táng - Có lớp da dày nhất

Nhiều loài động vật như cá sấu, tê giác hay cá mập voi sở hữu lớp da rất dày với độ dày lên tới 15 cm nhưng nó vẫn chưa là gì so với lớp da của cá nhà táng. Độ dày của da cá nhà táng có thể lên tới 35 cm, điều này cũng dễ hiểu bởi thức ăn ưa thích của cá nhà táng là những con mực khổng lồ với các xúc tu sắc như dao cạo nên chúng cần một lớp da dày như vậy để tự vệ khi săn mồi.


Cá nhà táng có hình dạng cơ thể đặc biệt và khó lẫn với các loài khác. Cụ thể, đầu của chúng rất lớn và có dạng khối, có thể chiếm từ 1/4 đến 1/3 chiều dài cơ thể. Lỗ thở hình chữ S nằm rất gần phía trước đầu và hơi chệch về phía bên trái cơ thể. Cấu trúc này khiến cá nhà táng có một thân hình rất bệ vệ, nhất là ở phía trước.


Đuôi của cá nhà táng có hình tam giác và rất dày. Khi cá chuẩn bị lặn sâu để tìm kiếm thức ăn, chúng vung đuôi lên cao khỏi mặt nước. Cá nhà táng không có vây lưng mà thay vào đó là một số lằn gợn nhỏ mọc trên lưng, trong đó gờ to nhất được dân săn cá voi gọi là "bướu" và thường dễ lầm lẫn với vây lưng của một loài cá hay cá voi nhỏ hơn.


Cá nhà táng không có da nhẵn mượt như phần lớn các loài cá voi to xác khác, trái lại da lưng của chúng nhăn nheo, sần sùi và thường bị liên tưởng đến hình ảnh của một trái mận khô. Thông thường da cá nhà táng có màu xám tuyền, mặc dù dưới ánh mặt trời chúng có thể trông như màu nâu. Cá nhà táng bạch tạng cũng đã từng được ghi nhận.


Cá nhà táng cái thường đi thành từng đàn chừng 12 con trường thành cộng với con cái của chúng. Cá đực trưởng thành rời đàn khi chúng được từ 4 tới 21 tuổi. Cá đực trưởng thành đôi khi đi thành những nhóm có mối quan hệ lỏng lẻo với những con cá cùng tuổi và kích thước. Cá đực già thì chủ yếu sống đơn độc. Cá đực được ghi nhận là tụ tập với nhau ở gần bờ biển cùng với nhau, cho thấy rằng giữa chúng có mối quan hệ hợp tác ở một mức độ nào đó mà đến nay vẫn chưa được hiểu rõ.

Cá nhà táng - Có lớp da dày nhất
Cá nhà táng - Có lớp da dày nhất

Ếch Bornean thở qua da

Đây là loài động vật khá đặc biệt vì chúng không có phổi hay mang nhưng điều đặc biệt ở chỗ chúng dùng da để hô hấp.

Mặc dù việc thở qua da không phải biện pháp tốt nhất, tuy nhiên loài ếch này có tỉ lệ trao đổi chất thấp nên không cần quá nhiều oxy. Bên cạnh đó chúng sống trong những vùng nước lạnh giá giúp giữ oxy lâu hơn các loài động vật khác.


Các nhà nghiên cứu hiện nay vẫn chưa thể lý giải được tại sao loài ếch này lại không có phổi, có giả thiết cho rằng chúng sống trong môi trường nước chảy xiết và việc đem theo 1 túi khí bên mình khiến chúng rất dễ bị nước cuốn trôi. Loài ếch thủy sinh này sống ở những con sông lạnh, trong và chảy xiết ở những khu vực hẻo lánh trong rừng mưa nhiệt đới Kalimantan, các Người Indonesia một phần của hòn đảo Borneo. Nó chỉ được biết đến từ hai địa phương, cả hai Sông Kapuas lòng chảo.


Loài ếch này phát triển đến chiều dài từ mõm đến lỗ là 77 mm (3,0 in) đối với con cái và con đực nhỏ hơn một chút. Nó có thân hình dẹt ngang lưng với đầu rộng với mõm tròn. Chân tay khỏe mạnh, cả tay và chân đều có màng. Da lưng mịn với vết lao ở đầu sau và chân sau và da bụng nhẵn. Màu chung của nó là nâu với đốm đen.

Ếch Bornean thở qua da
Ếch Bornean thở qua da

Bạch tuộc và mực - Lớp da đổi màu để ngụy trang

Bạch tuộc và mực đều 2 loài động vật thuộc ngành thân mềm nhưng chúng đều có 1 điểm vô cùng đáo: da có thể đổi màu liên tục. Lớp da của chúng có khả năng thay đổi màu sắc ngay lập tức trong bất kỳ môi trường nào, giúp chúng ngụy trang để bắt mồi hay trốn chạy một cách hoàn hảo nhất. Tuy nhiên, các nhà khoa học hiện nay chưa thể tìm ra nguyên nhân vì sao mực và bạch tuộc có khả năng nhận biết màu sắc từ môi trường trong khi chúng bị mùa màu.


Có giả thuyết cho rằng da của chúng có khả năng cảm biến màu sắc là nhờ một loại protein tên là Opsin giúp tất cả loài vật cảm nhận được màu sắc, tuy nhiên đối với loài mực và bạch tuộc thì Opsin có trong da của chúng thay vì trong mắt. Giải thích có lẽ là thuyết phục nhất hiện nay là da của chúng có khả năng cảm nhận ánh sáng rất tốt.


Ba cơ chế phòng thủ tiêu biểu của bạch tuộc là phun mực, ngụy trang và tự tháo bỏ tua. Hầu hết loài bạch tuộc có thể phun ra một loại mực hơi đen và dày như một đám mây lớn để thoát khỏi kẻ thù. Thành phần chính của loại mực đó là melamin, nó cũng là hóa chất tạo nên màu tóc và da của con người. Loại mực này cũng làm át mùi giúp bạch tuộc dễ dàng lẩn trốn những loài thú ăn thịt khát máu như cá mập.


Bạch tuộc ngụy trang nhờ vào những tế bào da chuyên dụng có thể thay đổi màu, độ mờ và tính phản chiếu của biểu bì. Những tế bào sắc tố chứa đựng màu vàng, cam, đỏ, nâu, hay đen; một số loài có 3 màu, số khác có 2 hay 4.[12] Những tế bào thay đổi màu khác cũng có thể được dùng để liên lạc hay cảnh báo những con bạch tuộc khác. Loài bạch tuộc xanh có độc sẽ trở thành màu vàng sáng khi bị khiêu khích.


Một số loài bạch tuộc có khả năng tách rời tua của nó khi bị tấn công giống như loài thằn lằn vậy. Những cái tua đã rời giúp đánh lạc hướng kẻ thù. Một số loài bạch tuộc, như bạch tuộc Mimic, có cách phòng vệ thứ tư. Chúng có thể biến đổi thân thể linh hoạt và màu sắc của mình giống những con vật nguy hiểm hơn như rắn biển hay lươn.

Bạch tuộc và mực - Lớp da đổi màu để ngụy trang
Bạch tuộc và mực - Lớp da đổi màu để ngụy trang

Tắc kè hoa và khả năng ngụy trang

Giống như bạch tuộc và mực, tắc kè hoa cũng có thể biến đổi màu sắc da trên cơ thể để ngụy trang. Tuy nhiên khả năng này còn giúp chúng điều chỉnh nhiệt độ và giao tiếp với nhau. Nhưng tắc kè hoa còn 1 khả năng đặc biệt hơn cả là “ngụy trang tùy thuộc vào kẻ thù”.


Khi kẻ thù tới gần, chúng sẽ thay đổi màu sắc tùy vào hoàn cảnh bên ngoài. Ví dụ như nếu gặp một con chim săn mồi, chúng sẽ chuyển màu hòa vào môi trường xung quanh, tuy nhiên đối với một số loài khác chúng lại chuyển thành màu sắc sặc sỡ. Bằng cách nào đó, tắc kè hoa biết rõ kẻ địch của mình, đây là loài động vật đầu tiên sử dụng các loại khác nhau của ngụy trang tùy thuộc vào từng loại kẻ thù khác nhau.


Chúng có khả năng thay đổi màu da bao gồm hồng, xanh dương, đỏ, da cam, xanh ngọc, vàng, và màu xanh lá cây. Màu sắc là một ngôn ngữ được sử dụng để bảo vệ lãnh thổ, thể hiện cảm xúc và giao tiếp với bạn tình tiềm năng. Nó cũng là một phương tiện điều tiết thân nhiệt. Cách tắc kè hoa thay đổi màu sắc thật thú vị: Các tế bào chứa nhiều sắc tố nằm dưới da và có thể "mở", "đóng" để phơi bày màu sắc. Chẳng hạn, khi tức giận, tắc kè hoa mở tế bào chứa sắc tố nâu - melanin, giúp biến nó thành màu thẫm. Khi nó thư giãn, tế bào chứa sắc tố vàng hoặc xanh kết hợp, làm cho da có màu xanh dịu. Khi bị kích thích tình dục, tắc kè hoa tạo ra rất nhiều màu sắc và hoa văn. Vào ban đêm, nhiều tắc kè hoa biến thành màu trắng.


Tắc kè hoa có cơ thể dẹt, tạo điều kiện để di chuyển dễ dàng qua các cành cây và cho phép chúng hấp thụ nhiệt hiệu quả trong buổi sáng và buổi tối bằng cách hướng phần cơ thể về phía Mặt trời. Chúng thích nghi độc đáo cho việc leo trèo và săn bắn thị giác, khoảng 160 loài tắc kè hoa phạm vi từ châu Phi, Madagascar, Nam Âu, trên toàn Nam Á, Sri Lanka; đã được nhập nội đến Hawaii, California, Florida, và được tìm thấy trong môi trường sống ấm áp khác nhau từ rừng mưa đến sa mạc.

Tắc kè hoa và khả năng ngụy trang
Tắc kè hoa và khả năng ngụy trang

Thằn lằn gai - Lớp da có thể giữ nước

Thằn lằn gai hay thằn lằn Moloch sinh sống trên vùng sa mạc sa mạc nước Úc, chúng có lớp da phủ đầy gai nhọn để tự vệ và ngụy trang nhằm thích nghi với cuộc sống khắc nghiệt trên sa mạc.


Điểm đặc biệt trên lớp da thằn lằn gai hông phải ở những chiếc gai nhọn mà là khả năng giữ nước độc đáo. Lớp da gai góc và sần sủi của chúng có khả năng hấp thụ nước rất tốt nhờ hệ thống mao dẫn dưới da, hệ thống mao dẫn này giống như những chiếc ống hút nước rồi chuyển trực tiếp xuống miệng. Nhờ có khả năng đặc biệt này mà thằn lằn gai có thể thích nghi tốt trong môi trường khô hạn.


Thức ăn của chúng bao gồm kiến và thường ăn hàng ngàn con kiến mỗi ngày. Chúng hút những giọt nước hiếm hoi trên sa mạc thông qua việc ngưng tụ sương trên cơ thể của chúng vào ban đêm. Lượng hơi nước tích tụ đủ lớn tạo thành những giọt sương và sau đó được chuyển đến miệng thông qua các rãnh hút ẩm giữa những chiếc gai. Khi có các trận mưa lớn, mao mạch hoạt động cho phép thằn lằn quỷ gai hút nước từ khắp các bộ phận trên cơ thể chúng.


Bao trùm toàn bộ cơ thể của chúng là những chiếc gai xù xì sắc nhọn giúp bảo vệ nó khỏi những kẻ săn mồi.Chúng có khả năng ngụy trang trên sa mạc và dáng đi đung đưa khi nó di chuyển. Chúng có thể có chiều dài lên đến hơn 20 cm (8,0 inch), và sống tới 20 năm. Cơ thể gai góc khiến những kẻ săn mồi khi ăn loài này thấy khó khăn. Chúng có cái đầu giả ở phần cổ trên lưng. Khi nó nhận thấy mối nguy hiểm đe dọa, nó cụp đầu lại giữa chân trước, và sau đó phô trương cái đầu giả của nó nhằm đánh lạc hướng.


Ngoài ra, thằn lằn gai được bao phủ gai sắc để cản cuộc tấn công của kẻ thù bằng cách làm cho nó khó nuốt. Nó cũng có một đầu giả trên lưng. Khi nó cảm thấy bị đe dọa bởi loài động vật khác, nó đưa đầu nó vào giữa hai chân trước, sau đó đưa đầu giả ra.

Thằn lằn gai - Lớp da có thể giữ nước
Thằn lằn gai - Lớp da có thể giữ nước

Sên biển - Có khả năng quang hợp qua da

Loài sên biển xanh lá cây là loại động vật đặc biệt nhất trên Trái Đất, nó chỉ ăn tảo và có cơ thể giống như một chiếc lá. Sau khi ăn một vài bữa, chúng chuyển thành màu xanh và bắt đầu có khả năng hấp thụ năng lượng Mặt Trời giống như khả năng quang hợp ở thực vật để tạo ra năng lượng cho cơ thể.


Điểm khác biệt ở đây là sên biển có khả năng hấp thụ chất diệp lục trong tảo và chuyển chúng vào da của mình. Các nhà khoa học cho rằng loài sên đặc biệt này có khả năng thay đổi cấu trúc ADN để kết hợp ADN của tảo vào cấu trúc ADN của cơ thể chúng. Sau khi đã nạp đủ lượng tảo cần thiết và bắt đầu thực hiện quá trình quang hợp, chúng không cần ăn uống mà chỉ cần hấp thụ ánh sáng Mặt Trời và điều này giúp chúng không cần bài tiết.


Sên biển là tên thông thường cho những loài động vật không xương sống ở biển và có ngoại hình giống như sên. Hầu hết các sên biển là động vật chân bụng, trải qua quá trình tiến hóa vỏ của chúng bị tiêu giảm hoặc bị biến mất hoàn toàn. Từ "sên biển" hầu như dùng để gọi nudibranch và các nhóm động vật chân bụng cận ngành không có vỏ khác.


Sên biển có kích thước, máu sắc và hình thù rất đa dạng. Hầu hết trong số chúng trong suốt một phần. Mầu sắc rực rỡ của các loài sống trong rạn san hô cho thấy chúng luôn bị các loài săn mồi de dọa, tuy nhiên nó cũng là một hình thức cảnh báo đến các động vật khác rằng chúng có độc (các tế bào châm) hoặc có mùi vị kinh tởm. Giống như tất cả các động vật chân bụng, chúng có các răng nhỏ hình lưỡi dao cạo (radula). Hầu hết sên biển có một cặp tua cảm trên đầu (rhinophore), có tác dụng như khướu giác, và mắt của chúng nằm ở phần gốc của hai tua này. Nhiều loài có các cấu trúc dạng lông vũ (cerata) trên lưng, thường có màu sắc tuơng phản, đóng vai trò như một mang cá. Tất cả các loài sên biển thực thụ đều có con mồi chuyên biệt, ví dụ như sứa, bryozoa, hải quỳ, và sinh vật phù du, hoặc có thể các loài sên biển khác.

Sên biển - Có khả năng quang hợp qua da
Sên biển - Có khả năng quang hợp qua da

Hươu cao cổ - Da có chức năng giống như máy điều hòa không khí

Toàn thân được bao phủ bởi những đốm không đều nhau trên lớp lông vàng đến đen phân chia bởi màu trắng, trắng nhờ, vàng nâu. Loài hươu ca cổ thường sống trên các sa mạc, xavan ở châu Phi – nơi có nhiệt độ và điều kiện sống rất khắc nghiệt. Trong khi các loài động vật khác phải nhờ đến nước hay bóng râm để làm mát cơ thể thì hươu cao cổ lại không như vậy vì kích thước cơ thể quá khổ của chúng. Thay vào đó , da của hươu cao cổ giống như một chiếc điều hòa nhiệt độ giúp điều tiết nhiệt lượng bên trong cơ thể chúng.


Theo các nhà khoa học, da của hươu cao cổ có những đốm sẫm, chúng giống như một cửa sổ thoát nhiệt. Dưới những đốm sẫm này là hệ thống mạch máu phức tạp với các mạch máu lớn ở viền, chúng có thể xác định được những cơn gió mát hoặc đợi đến lúc nhiệt độ môi trường thấp đi để tự làm mát cơ thể. Hươu cao cổ cũng có nhiều da hơn so với những con vật cùng trọng lượng, do đó chúng có thể làm mát tốt hơn.


Da của hươu cao cổ chủ yếu có màu xám, hoặc rám nắng. Độ dày của nó cho phép con vật chạy qua các bụi gai mà không bị đâm thủng. Bộ lông có thể dùng như một biện pháp phòng vệ hóa học, vì chất xua đuổi ký sinh trùng của nó tạo cho con vật một mùi hương đặc trưng. Ít nhất 11 hóa chất thơm chính có trong lông, mặc dù indole và 3-methylindole chịu trách nhiệm về phần lớn mùi. Bởi vì con đực có mùi mạnh hơn con cái, mùi này cũng có thể có chức năng tình dục. Dọc theo cổ của con vật là một bờm làm bằng những sợi lông ngắn và dựng đứng. Chiếc đuôi dài một mét (3,3 ft) kết thúc bằng một chùm lông dài và sẫm màu và được sử dụng như một biện pháp bảo vệ chống lại côn trùng.

Hươu cao cổ - Da có chức năng giống như máy điều hòa không khí
Hươu cao cổ - Da có chức năng giống như máy điều hòa không khí

Cá sấu - Lớp da có thể phát hiện con mồi đang bơi

Cá sấu từ lâu nổi tiếng với lớp da dày, sần sủi và khá bền nên được sử dung nhiều trong ngành công nghiệp thuộc da. Nhưng ít ai nghĩ rằng da cá sấu không chỉ dày mà còn rất nhạy cảm với xung động từ môi trường, nó cũng có nhiều bộ cảm biến không như những loài vật khác. Bề mặt của da cá sấu vô cùng nhạy bén, lớp da từ dưới hai bên hàm kéo dọc suốt cơ thể có thể cảm nhận những gợn sóng nhỏ nhất trên mặt nước nên chúng có thể xác định chính xác vị trí con mồi ngay cả khi ẩn dưới làn nước sâu thẳm.


Các nhà khoa học cho rằng trong lớp da cá sấu còn có nhiều thành phần hóa học giúp chúng dễ dàng tìm được môi trường sống phù hợp nhưng hiện nay họ vẫn chưa tìm được và tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới.


Cá sấu là các loài bò sát lớn ưa thích môi trường nước, chúng sống trên một diện tích rộng của khu vực nhiệt đới của châu Phi, châu Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Đại Dương. Cá sấu có xu hướng sinh sống ở những vùng sông và hồ có nước chảy chậm, thức ăn của chúng khá đa dạng, chủ yếu là động vật có vú sống hay đã chết cũng như cá. Một số loài, chủ yếu là cá sấu cửa sông ở Úc và các đảo trên Thái Bình Dương, được biết là có khả năng bơi ra xa ngoài biển.


Những loài cá sấu lớn có thể rất nguy hiểm đối với con người. Cá sấu cửa sông và cá sấu sông Nin là những loài nguy hiểm nhất, chúng đã giết chết hàng trăm người mỗi năm ở các khu vực Đông Nam Á và châu Phi. Cá sấu mõm ngắn và có thể cả cá sấu caiman đen (là loài đang nguy cấp trong sách đỏ của IUCN) cũng là những loài gây nguy hiểm cho con người.


Cá sấu là động vật cao cấp nhất trong tất cả các loài bò sát, sinh trứng. Cá sấu có tim 4 ngăn, cơ hoành và vỏ não. Đặc điểm này làm nó được đánh giá là tiến hóa hơn những loài lưỡng cư khác. Cá sấu ăn thịt và là tay đi săn cừ khôi với bộ răng sắc bén có thể nghiền nát con mồi trong chốc lát. Thân thể chúng thuôn dài giúp bơi nhanh hơn. Khi bơi chúng ép sát chân vào người để giảm sức cản của nước. Chân cá sấu có màng, không phải dùng quạt nước mà để sử dụng cho những cử động nhanh đột ngột hoặc lúc bắt đầu bơi. Chân có màng giúp cá sấu có lợi thế ở những chỗ nước nông, nơi mà các con vật trên cạn thường qua lại.

Cá sấu - Lớp da có thể phát hiện con mồi đang bơi
Cá sấu - Lớp da có thể phát hiện con mồi đang bơi

Bình luận

Có Thể Bạn Quan Tâm ?