Top 19 Loài động vật sở hữu bộ lông kỳ lạ nhất thế giới

Có thể thấy, trong thế giới động vật, bộ lông có rất nhiều tác dụng khác nhau như giữ ấm cơ thể, làm đẹp, đe dọa kẻ thù,… trong số đó nổi lên một số loài có vẻ bên ngoài cực kỳ lạ mắt nhờ sở hữu những bộ “cánh” cực độc mà thiên nhiên ban tặng cho. Cùng Toplist tìm hiểu những loài động vật sở hữu bộ lông kỳ lạ nhất Thế giới ngay sau đây nhé!

Chó Afghan

Loài chó được mệnh danh quý tộc này sở hữu bộ lông mềm mại trải dài như thác nước. Sợi lông màu trắng như tơ lụa càng tôn thêm vẻ đẹp kiêu sa cho những “nhà quý tộc” chính hiệu. Hầu hết giống chó Afghan có nguồn gốc từ Trung Á. Chúng có khả năng quan sát nhạy bén, khỏe mạnh, dẻo dai nên còn được dùng trong các cuộc đi săn.


Chó săn Afghan có ngoại hình nhìn chung ấn tượng, đầu chúng ngẩng cao, trông kiêu hãnh. Chúng thường biểu lộ vẻ trầm ngâm là một đặc trưng của loài chó này. Chúng tạo một ấn tượng mạnh về sức mạnh, sự dẻo dai và vẻ đường bệ, kết hợp với tốc độ và sức mạnh. Giống chó này quan sát mọi thứ rất nhanh, ít khi nán lại để nhìn lâu. Trong chúng khá đường bệ và di biệt, đồng thời có một vẻ sắc sảo, mạnh mẽ. Chiều cao của chó đực 68–74 cm còn chó cái là 63–69 cm.


Chúng có bộ lông dài và dày của chúng giúp bảo vệ khỏi khí hậu lạnh giá ở vùng núi. Bộ lông của chúng là một trong những nét nổi bật của giống chó này. Lông chúng dài và rất phủ xuống hết lồng ngực, chân trước, chân sau và sườn, hông. Chó trưởng thành có lông ngắn hơn ở phía sau vai và dọc trên lưng. Lông dài từ trán ra phía sau, với kiểu thắt nơ rất dễ nhận thấy. Phía trước mặt lông ngắn. Tai và chân được lông phủ đều, dài. Cổ chân có thể trọc. Lông cần phải để phát triển tự nhiên. Lông đuôi thưa thớt.


Tai chúng buông thõng và hướng ra phía sau, tai sát vào đầu và được bao phủ bằng lớp lông rất dài và mượt. Lưng thẳng, dài vừa phải và rất chắc chắn, mạnh mẽ. Hàm chúng khoẻ, với bộ răng hoàn chỉnh, đầy đủ, phát triển tốt và đan chéo nhau như lưỡi kéo (scissor bite). Răng hàm trên phủ lên răng hàm dưới, và răng mọc vuông góc với hàm. Chúng có mức độ cắn mạnh vừa phải chứ không phải là những giống chó có cú cắn chết điếng.

Chó Afghan
Chó Afghan

Chuột lang Peru

Chính bộ lông mềm mại khiến cho bất cứ ai khi nhìn thấy đều phải ghen tỵ với loài chuột lang Peru. Được biết, đây là loài chuột lang có bộ lông dài nhất, với kỷ lục chiều dài lên tới 50,8 cm. Dù kích thước khá lớn song đây là loại chuột khá hiền lành, luôn thân thiện với con người, đặc biệt là trẻ em.


Chuột lang Peru có xuất xứ chủ yếu từ Peru, Argentina và Bolivia. Trong số các giống chuột lang trên thế giới hiện nay thì chúng là một trong những giống xuất hiện sớm nhất. những chuột lang lâu đời nhất. Về ngoại hình, chuột lang Peru khá giống với chuột lang Aby. Tuy nhiên trên thân chỉ có 2 xoáy. Bộ lông của chúng vô cùng dài mượt, trung bình từ 5 – 10cm. Thậm chí có những bé có bông lông dài tới 50cm. Chính vì thế khi nuôi chuột lang peru, chủ nhân sẽ cần phải thường xuyên cắt tỉa và tắm rửa liên tục. Điều này sẽ giúp cho bộ lông luôn mềm mượt.


Cũng giống như các giống chuột lang khác, chế độ ăn của chuột giống Peru khá đơn giản. Trong đó ngũ cốc và chất xơ là các nhóm chất quan trọng nhất. Bên cạnh đó trong chế độ ăn hàng ngày cũng cần chú ý bổ sung đủ nước và vitamin C. Bởi cơ thể chuột lang rất cần vitamin C để chống lại những bệnh nguy hiểm.

Chuột lang Peru
Chuột lang Peru

Thỏ Angora

Thỏ Angora là một trong những loài động vật sở hữu bộ lông đặc biệt nhất thế giới. Angora có thân hình tròn trịa như quả bóng, nặng từ 2-3,4kg. Loài ra, loài thỏ này có đặc điểm vô cùng nổi bật, đó là bộ lông dài và mềm, che phủ cả mặt mũi, chân và đỉnh và tai. Với vẻ ngoài đáng yêu như vậy, thỏ Angora còn được ví von như những "cục bông biết nhảy".

Mỗi tháng, lông của thỏ Angora có thể dài khoảng 2,5cm. Lông của thỏ Angora được dùng để làm ra loại len có tên là Angora. Loại len này mềm, mịn, mỏng và bông nhưng không đủ độ bền cần thiết.


Chúng là loài thỏ gây ấn tượng bởi bộ lông mềm, mượt và xù bông, đẹp và đáng yêu, nổi tiếng bởi bộ lông xù to gấp nhiều lần cơ thể. Bề ngoài chúng Loài thỏ khổng lồ, lông xù như cục bông, tuy chỉ nặng hơn 2 kg nhưng trông giống như sinh vật khổng lồ khi sở hữu lớp lông dày tới 50 cm. Với hình dạng đáng yêu, thỏ Angora khi còn bé được ví von như những cục bông biết nhảy. Có những con thỏ nặng hơn 2 kg, có bộ lông dài nhất và mềm nhất trên thế giới, lớp lông dày tới 50 cm, khiến nó thường bị nhầm lẫn với một chiếc đệm bông đặc biệt. Trung bình, mỗi con thỏ Angora có thể sống từ 7 - 12 năm nếu được nuôi trong nhà và chăm sóc đầy đủ, nhưng sống ngắn hơn nếu nuôi ngoài trời.


Mỗi tháng lông của con thỏ có thể mọc dài khoảng 2,5 cm, đó là loại sợi có chất lượng tốt để làm thành len. Loại len Angora này có nguồn gốc từ thỏ Angora. Sợi len loại này mềm, mịn, mỏng và rất bông, tuy nhiên, nó không đủ độ bền cần thiết nên khi được sử dụng trong sản xuất thì người ta thương pha thêm các thành phần len, sợi khác. Bộ lông của thỏ nếu không được chăm sóc tốt có thể bị rối lông hay khiến thỏ tự vướng vào bộ lông dài của nó. Bộ lông xù nhất của con vật yêu cầu một bàn chải đặc biệt và máy sấy công suất lớn để chăm sóc cho bộ lông mềm mượt của thỏ.


Là một giống thỏ lâu đời trong số các giống thỏ khác có mặt trên thế giới. Thỏ được sản sinh ra nhiều ở thời kỳ trước đây. Nó có bộ lông dài, dày, mịn, mượt, mềm, láng thường dùng làm áo cho phụ nữ rất đẹp. Tuy nhiên, thỏ Thổ Nhĩ Kỳ thường là nhút nhát, khó cầm giữ trên tay. Thỏ hay nhảy lung tung, leo trèo ra ngoài đặc biệt là phải thường xuyên chải vuốt lông ít nhất mỗi tuần một lần. Một con thỏ cho 600 – 700 g lông tơ một năm.

Thỏ Angora
Thỏ Angora

Gà Ba Lan

Gà vàng Ba Lan nổi bật với một cái mào bằng lông phồng lên như một chiếc vương miện nhưng đôi khi lại gây rắc rối cho khổ chủ bởi che khuất tầm nhìn. Gà này thuộc loại nhiều trứng với năng suất 1-2 quả/ ngày. Người Mỹ từng sử dụng kỹ thuật ghép gene để tạo những con gà Ba Lan ngũ sắc hay có mào rất dài, hoặc có bộ lông vàng óng. Tuy nhiên, nét đẹp lạ lùng của giống gà này lại nằm ở chùm lông trên đầu chứ không phải màu lông. Tuy nhiên với ngoại hình như thế này, có lẽ chúng hợp để làm gà cảnh hơn.


Theo đa số các nhà sinh vật học nói chung và điểu học nói riêng, gà Ba Lan có thể xuất xừ từ Đông Âu xưa, ít nhất là vài nghìn năm, có thể do tự nhiên mà cũng có thể do những cuộc lai tạo cố ý từ con người. Nay chúng là một loại gà cảnh chứ không phải gà thịt hay gà đẻ trứng, dù theo nhiều tư liệu khoa học thì trước kia, người ta cũng xem nó là gà công nghiệp thật sự.


Tại một số khu vực nông thôn của Ba Lan, Hungary hay Cộng hoà Séc, người ta chỉ xem gà Ba Lan là gà chọi trong những dịp lễ đầu xuân hay nuôi làm cảnh. Năm 1999, khi kỹ thuật lai tạo gia cầm tiến một bước xa, giống gà Ba Lan lông xanh ra đời, đẩy số câu lạc bộ gà này lên rất cao. Tại Mỹ có hơn 200 câu lạc bộ chuyên nuôi gà "đầu xù" và thường xuyên tham dự những cuộc thi gà đẹp hằng năm tại Texas.


Gà nặng 1.8–2 kg, có lông đầu rất đẹp có thể nuôi để lấy thịt và làm gà kiểng. Đây là loài gà có chiếc mào khổng lồ, là một trong những giống gà đẹp nhất trong thế giới loài gà với chiếc mào khổng lồ này. Những đám lông lớn đã làm cho chiếc đầu của chúng như một bông hoa lộng lẫy càng làm tôn thêm vẻ kiêu sa của chúng.

Gà Ba Lan
Gà Ba Lan

Lợn Mangalitsa

Mangalitsa là một giống lợn từ Hungary, nghĩa đen là "rất nhiều mỡ". Mangalitsa có thể xem là một trong những giống lợn béo nhất thế giới bởi cơ thể nó chiếm 65 - 70% mỡ và chỉ có 20 - 35% thịt nạc, trong khi các giống lợn khác thì phần thịt bao giờ cũng chiếm hơn 50%.


Ngoài đặc trưng là nhiều mỡ thì giống lợn Mangalitsa còn có điểm vô cùng khác biệt, đó là nó có bộ lông xoăn tít như những chú cừu. Chắc chắn sẽ có rất nhiều người ngạc nhiên khi lần đầu tiên được nhìn thấy chú "lợn đội lốt cừu" hoàn hảo thế này.


Lợn Mangalitsa không yêu cầu chế độ chăm sóc đặc biệt, thức ăn chủ yếu của chúng là lúa mì, ngô, lúa mạch, cỏ... Thịt lợn Mangalitsa được coi là một trong những loại thịt ngon nhất thế giới. So với các loài lợn khác, lợn Mangalitsa sở hữu trí thông minh vượt trội. Do đó, chúng nổi tiếng là loài lợn có vẻ ngoài đáng yêu như cừu và thông minh như chó.


Hiện có tới ba loại lợn lông xù Mangalitsa, phân theo màu sắc là vàng, bụng lông nhạn và đỏ, phổ biến nhất là màu vàng hoe. Mỗi con lợn Mangalitsa có 5 núm vú và được phát triển bình thường ở hai bên. Lợn Mangalitsa không yêu cầu chế độ chăm sóc đặc biệt, thức ăn chủ yếu của chúng là lúa mỳ, bắp, lúa mạch, cỏ. Chúng còn được đánh giá là khá thông minh.


Các nhà khoa học đã phát hiện ra điều thú vị về mỡ lợn Mangalitsa hoàn toàn không giống như những con lợn thông thường bởi nó chứa nhiều chất béo chưa bão hòa tốt cho cơ thể lại cực giàu axit béo Omega 3 thường chỉ thấy ở loài cá, ngoài ra nó còn chứa các chất oxy hóa vượt trội.


Chính đặc điểm an toàn sức khỏe này đã khiến giống lợn Mangalitsa bắt đầu được chú ý nhiều và người ta đã khám phá ra phần thịt ít ỏi trong mỗi con lợn Mangalitsa thật sự là một cực phẩm xứng đáng đứng ngang hàng với thịt bò Kobe Nhật Bản có giá cả ngàn đô, dù giá của chúng chỉ lên tới 12 - 45USD/pound (tương đương khoảng 275 nghìn - 1 triệu/kg) tùy từng phần thịt và tùy từng con lợn.

Lợn Mangalitsa
Lợn Mangalitsa

Chó Komondor

Đây là một giống chó truyền thống lâu đời, báu vật quốc gia của Hungary. Giống chó này có bộ lông màu trắng xoắn bện vào với nhau. Lông của Komondor có thể dài từ 20 - 27cm với tổng trọng lượng trên dưới 30kg.


Lông của Komondor tuy mềm và mượt nhưng do xoăn tự nhiên nên nó thường có xu hướng tự cuốn lại với nhau thành từng búi nhỏ như sợi giẻ lau. Do đó, mỗi lần tắm, loài chó này sẽ phải mất hơn 2 ngày để bộ lông được khô ráo hoàn toàn.

Ngoài bộ lông "khủng", Komondor còn sở hữu sức khỏe phi thường cùng sự nhanh nhạy và dẻo dai. Người ta thường nuôi chó giẻ lau để bảo vệ đàn cừu khỏi sự tấn công của lũ sói hay gấu.


Komondor là giống chó sở hữu bộ lông dài, màu trắng xoắn bện vào với nhau. Bộ lông của chó Komondor được tạo thành từ những sợi lông to dày như dây thừng. Trọng lượng của nó có thể lên đến 30 kg. Lông của Komondor có thể dài từ 20 – 27 cm với tổng trọng lượng trên dưới 30 kg. Mỗi sợi lông như thế ở con chó trưởng thành dài hơn 90 cm. Những sợi lông mềm mượt tự xoắn vào nhau. Lông của Komondor tuy mềm và mượt nhưng do xoăn tự nhiên nên nó thường có xu hướng tự cuốn lại với nhau thành từng búi nhỏ như sợi giẻ lau.


Bộ lông của Komondor phát triển trong hai năm đầu đời và dài ra theo thời gian. Chỉ riêng 2.000 "sợi" lông to bản đã nặng đến 30 kg. Lông chó Komondor phát triển trong hai năm đầu đời và dài ra theo thời gian. Khoảng 9 tháng, những chiếc lông gáy mới bắt đầu mọc trùm qua lớp lông mềm, nhẹ và xoăn, người nuôi phải tốn hàng giờ để chải lông cho nó bởi chúng rất hay bị rối. Nếu để một bộ lông chó Komondor phát triển tự nhiên mà không cắt tỉa, trông nó sẽ giống như một khối hình chữ nhật thật đặc biệt.


Điều đặc biệt là loài chó này rất sợ nước và chúng không lại gần những nơi có nước. Mỗi khi bị ướt người, chúng phải cần vài ngày để bộ lông khô. Mỗi lần tắm, loài "chó giẻ lau" này sẽ phải dành hẳn 2 ngày rưỡi để bộ lông được khô ráo hoàn toàn. Điều này ta chỉ nhận thấy khi Komondor được ngoài 2 năm tuổi. Với bộ lông dài, dày, được đan bện vào với nhau trong như cái giẻ lau nhà, lông chó con thì mềm và như một múi bông.


Nhưng khi trưởng thành bộ lông sẽ xoăn và bện lại với nhau. Khi trưởng thành sau khoảng 2 tuổi thì lông ở sát da sẽ mềm còn lông trên sẽ xoắn lại như 1 sợi dây thừng nhỏ. Khi sinh ra chúng thường có bộ lông màu trắng trông hơi giống với giống Puli, ngoài ra có màu đen và màu xám. Nhưng bộ lông của chúng sẽ bị biến màu do tác động của các yếu tố bên ngoài hoặc mất đi màu trắng nếu lười tắm.

Chó Komondor
Chó Komondor

Lợn râu Borneo

Lợn râu Borneo là loài lợn có khá nhiều lông trên khuôn mặt. Con cái cũng mọc nhiều lông nhưng ít hơn con đực.


Lợn râu Borneo, tên khoa học Sus barbatus, là một loài lợn thuộc chi Lợn, họ Lợn. Nó có bộ râu nổi bật, đôi khi có tua trên đuôi. Nó được tìm thấy trong khu vực Đông Nam Á, Sumatra, Borneo, bán đảo Mã Lai, và nhiều đảo nhỏ, nơi nó sống ở rừng nhiệt đới và rừng ngập mặn.


Nó có thể sinh sản từ 18 tháng tuổi, và có thể được qua lai tạo với các loài khác trong họ Suidae. Vườn thú San Diego là vườn thú đầu tiên ở Tây bán cầu lai tạo chúng. Tính đến tháng 1 năm 2011, nó cũng được nuôi tại sở thú London, sở thú Hellabrunn, sở thú Gladys Porter, sở thú Lowry Park, sở thú Philadelphia, vườn thú quốc gia Malaysia (Zoo Negara), Zoo Taiping và Sở thú Singapore.

Lợn râu Borneo
Lợn râu Borneo

Chim bồ câu Frillback

Có thể thấy những lọn lông xoăn trên thân chú chim bồ câu Frillback dễ khiến người ta liên tưởng đến những bông hoa. Bồ câu Frillback được cho là hậu duệ của loài bồ câu Gầm ghì đá với lớp lông uốn lọn và móng vuốt sắc nhọn.


Bồ câu Frillback có tổ tiên là bồ câu đá, nổi tiếng với bộ lông tự nhiên xoăt tít lạ lùng. Đám lông xoăn bao phủ toàn bộ phần cánh của chúng, một phần cuối đuôi hoặc mu bàn chân.


Theo nghiên cứu của nhà khoa học L. Paul Gibson, những sợi lông xoăn của chim bồ câu do hai gene biến đổi hình thái quy định, chiếm ưu thế và có thể có gene thứ ba gây ra lông dài hơn. Nhìn những sợi lông xoăn phủ đầy hai bên cánh nhiều người sẽ nghĩ rằng loài chim bồ câu này không biết bay hoặc bay rất khó. Tuy nhiên, thực tế thì ngược lại. Chúng bay rất tốt, nhưng thích đi bộ trên mặt đất hơn.


Chim bồ câu Frillback có nhiều màu khác nhau nhưng chủ yếu và phổ biến hơn cả là màu trắng, đen, vàng, xanh, bạc ...

Chim bồ câu Frillback
Chim bồ câu Frillback

Gà Silkie

Gà Silkie là một trong những giống gà cảnh được yêu thích nhất hiện nay. Có xuất xứ từ Trung Quốc, gà Silkie được đưa đến châu Âu khoảng 200 năm trước đây. Chúng được các nhà động vật học ví von là loài lai giữa gà và thỏ. Gà Silkie có vẻ ngoài vô cùng đáng yêu với bộ lông xù như chó Nhật. Bộ lông này phủ kín thân những con gà Silkie và người ta chỉ có thể nhìn thấy mặt của chúng. Với bộ lông xù đặc trưng này, gà Silkie có thể sống được ở những nơi có khí hậu khắc nghiệt. Gà Silkie có tuổi thọ khoảng chín năm. Đây cũng là loài vật dễ nuôi. Thức ăn chủ yếu của chúng là rau xanh, thóc, gạo.


Giống gà này được đặt tên là Silkie vì có bộ lông đặc trưng được cho là mềm như lụa (silk)[3], đặc trưng của giống gà Silkie là chúng có bộ lông xù như lông chó Nhật, phủ toàn thân và cả phần đầu, sống được ở điều kiện khí hậu ấm và lạnh. Bộ lông này phủ kín thân những con gà Silkie và người ta chỉ có thể nhìn thấy mặt của chúng[4]. Chúng ví von là loài lai giữa gà và thỏ, với bộ lông mang đủ màu sắc.


Mỗi con gà trưởng thành nặng từ 1,5–2 kg, vòng đời có thể kéo dài tới 7-8 năm, nếu chăm sóc tốt có thể sống được 9 năm. Chúng không kén đồ ăn, thậm chí còn dễ nuôi hơn rất nhiều so với gà Việt Nam. Thức ăn chủ yếu là rau xanh, thóc, gạo. Tỷ lệ ấp trứng thành công rất cao. Tuy nhiên, trong cuộc đời sinh sản, gà lông xù chỉ đẻ được 7-8 quả trứng. Gà Silkie về cơ bản là giống gà điển hình trong số các loài gia cầm được thuần hóa. Giống gà này rất hiền, có phần quấn quýt với người nên hầu hết được đặt mua về làm thú cưng trong các gia đình.


Gà Silkie là một giống gà có nguồn gốc từ Trung Quốc. Chúng nổi bật với bộ lông xù lạ mắt, nhiều màu sắc, dễ chăm sóc. Đây là một giống gà kiểng được yêu thích. Nguồn gốc chính xác của giống gà này hiện vẫn chưa được làm rõ. Gà Silkie có thể có xuất xứ từ Trung Quốc và được đưa đến châu Âu khoảng 200 năm trước đây

Gà Silkie
Gà Silkie

Chim đuôi seo

Chim đuôi seo (tên khoa học Pharamachrus mocinno) là một trong những loài chim sở hữu bộ lông đẹp nhất thế giới. Chúng thường sống ở vùng núi, rừng nhiệt đới Trung Mỹ. Thức ăn yêu thích là trái cây, côn trùng, thằn lằn và những loài sinh vật nhỏ khác.


Trong suốt mùa giao phối, chim đực được tô điểm với hai chiếc lông đuôi dài đến 1m và bộ lông sặc sỡ sắc màu. Khác với chim đực, những con chim mái không có đuôi dài và màu sắc bớt rực rỡ hơn. Chim đuôi seo rất sợ sự giam cầm. Chúng thà tự kết liễu đời mình còn hơn bị nhốt trong lồng hay xiềng xích. Vì thế, chúng trở thành biểu tượng của Guatemala, một quốc gia thuộc Trung Mỹ và cũng là hiện thân của một vị thần hùng mạnh trong thần thoại Maya cổ.


Trong suốt mùa giao phối, chim đực được tô điểm với hai chiếc lông đuôi dài đến 3 fit (1m). Chim cái không có đuôi dài, nhưng cũng giống chim đực, chúng khoác lên người bộ lông với những màu đỏ, xanh lá cây, xanh nước biển lộng lẫy. Nhưng màu lông của con đực có phần rực rỡ hơn.


Đôi chim đuôi seo thường dùng chiếc mỏ khỏe mạnh của mình để làm tổ trên những cái cây hoặc gốc cây mục ruỗng. Bên trong đó, chúng thay phiên nhau ấp 2 đến 3 quả trứng, con đực vì có đuôi dài nên đôi khi cái đuôi lộ ra khỏi tổ. Chim non biết bay khi được ba tuần tuổi, nhưng những con chim đực chỉ mọc lông đuôi khi chúng được 3 năm.


Chim đuôi seo vốn được coi là thần thánh đối với người Maya và Aztec cổ đại, tầng lớp quý tộc và tăng lữ thường cài trên người lông của chim đuôi seo trong các buổi lễ lớn.

Chim đuôi seo
Chim đuôi seo

Chim Crax rubra

Chim Crax rubra sống ở vùng Trung Mỹ. Nó cao khoảng một mét. Đặc điểm nổi bật nhất của loài chim này là những lọn "tóc xoăn" nổi bật phía trên đầu.


Crax rubra là một loài chim trĩ lớn, chúng sống trong các khu rừng mưa nhiệt đới, phạm vi của chúng kéo dài từ đông Mexico, qua Trung Mỹ đến tây Colombia và tây bắc Ecuador. Chim trống màu đen với mào xoăn và mỏ màu vàng, chim mái có ba hình thái màu khác nhau, màu hung, màu nâu đỏ và màu đen. Những loài chim này tạo thành các nhóm nhỏ, kiếm ăn chủ yếu trên mặt đất để kiếm trái cây và động vật chân đốt, và đôi khi là động vật có xương sống nhỏ, nhưng chúng đậu và làm tổ trên cây.


Loài này có quan hệ "một vợ một chồng", con đực thường xây những cái tổ khá nhỏ bằng lá, trong đó có hai quả trứng được đẻ. Loài này đang bị đe dọa do mất môi trường sống và săn bắn, và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế đã đánh giá tình trạng bảo tồn của nó là "loài sắp nguy cấp".

Chim Crax rubra
Chim Crax rubra

Bò cao nguyên Scotland

Bò cao nguyên Scotland hay còn gọi là bò tóc rậm gây ấn tượng bởi cặp sừng dài cùng bộ lông rậm rạp, đặc biệt là ở trên trán. "Tóc" của loài bò này được xem là dài nhất trong bất kỳ giống gia súc và giúp bảo vệ chúng trong mùa đông lạnh

Bò cao nguyên Scotland được nuôi chủ yếu để lấy thịt, rất chất lượng vì chứa ít cholesterol. Trong khi đó, sữa của bò cao nguyên Scotland thường có hàm lượng bơ rất cao.


Đây là một giống bò nhà bản địa. Ngày nay, nó được nuôi lấy thịt tại nhiều nơi như châu Âu, Bắc Mỹ và Australia. Con vật có đặc điểm nổi bật là "mái tóc dài", giúp chúng thích nghi với điều kiện thời tiết khắc nghiệt.


Chúng là một giống bò khỏe do môi trường bản địa của nó, Một con bò mộng có thể nặng tới 800 kg, bò cái nặng lên đến 500 kg. Sữa của chúng thường có hàm lượng mỡ bơ rất cao. Thịt được coi là một trong những chất lượng cao nhất và đang được xu hướng chấp nhận vì nó là rất ít cholesterol. Bò đực trưởng thành có thể nặng tới 800 kg (1.800 pound) và bò cái có thể nặng tới 500 kg (1.100 pound). Bò còn có tuổi thọ lâu hơn dự kiến so với hầu hết các giống khác của gia súc, lên đến 20 năm. Nó là giống chuẩn bò đực phải có sừng. Những con bò có truyền thống được sử dụng như bò nhà là họ có một tính khí ngoan ngoãn và sữa có hàm lượng mỡ bơ cao.


Bò được nuôi thành công tại nhiều quốc gia ôn đới ở Trung Âu, và trên thực tế ở các quốc gia nơi mà mùa đông thì lạnh hơn đáng kể so với Scotland như ở Na Uy và Canada. Tóc của chúng được xem là dài nhất của bất kỳ giống gia súc và giúp bảo vệ chúng trong mùa đông lạnh. Kỹ năng của chúng trong việc tìm kiếm thức ăn cho phép chúng tồn tại trong khu vực núi dốc đứng, nơi cả hai đều ăn cỏ và ăn thực vật có nhiều gia súc khác tránh. Chúng có thể khai thác nguồn thức ăn thông qua tuyết với sừng của chúng để tìm cây bị chôn vùi.

Bò tóc rậm
Bò tóc rậm

Lạc đà Alpaca

Alpaca là loài lạc đà không bướu sống chủ yếu ở dãy núi Andes, Nam Mỹ. Lạc đà Alpaca có đầu nhỏ, cổ dài, đuôi ngắn và phần lông trên đầu cực kỳ ấn tượng. Bộ lông rất dày giúp chúng thích nghi với điều kiện khí hậu lạnh.


Lông của alpaca là một loại tơ sợi tự nhiên mềm và đẹp. Tương đối giống với lông cừu, nhưng nó ấm hơn, ít chất dầu và ít gây dị ứng hơn. Không có chất dầu nên lông alpaca không chống thấm nước. Lông alpaca mềm và hơi xa xỉ. Về cấu trúc vật lý, lông alpaca có cấu trúc tương tự tóc, rất mềm, mịn và bóng. Các công đoạn chuẩn bị, quay tơ, dệt vải và hoàn thành giống với các công đoạn của việc sản xuất lông cừu. Lông alpaca còn chống được lửa và đáp ứng được mọi tiêu chuẩn của US Consumer Product Safety Commission (Sản phẩm tiêu dùng của Mỹ).


Alpaca được cắt lông một lần trong năm vào mùa xuân. Mỗi lần cắt cho khoảng 2.2–4.5 kg lông mỗi con alpaca. Một con alpaca trưởng thành có thể cho 1420–2550 gram lông thượng hạng cũng như 1420–2840 gram lông hạng 2 và 3.


Alpaca là loài bầy đàn sống trong gia đình gồm một con đực, những con cái và con của chúng. Alpaca cảnh báo cả đàn về kẻ ngoại lai bằng kêu lớn, đầy sắc lạnh như tiếng lừa kêu. Đàn có thể tấn công kẻ thù nhỏ bằng chân trước như đá hay đạp.


Alpaca cần ít thức ăn hơn các loài khác ở cùng lứa tuổi. Chúng thường ăn rơm rạ hoặc cỏ nhưng chúng cũng có thể ăn một vài loại cây khác và cũng là bình thường nếu chúng cố gắng nhai mọi thứ (như chai nhựa,túi nilon,..). Hầu hết, người chủ luôn điều chỉnh thay đổi nơi ăn cỏ của chúng để cỏ có thể mọc lại. Alpaca có thể ăn cỏ thiên nhiên, tuy nhiên, các điền chủ vẫn cung cấp cỏ với rơm rạ có thêm protein. Để cung cấp Selenium (Se), các điền chủ sẽ cho chúng ăn một lượng nhỏ mỗi ngày.

Lạc đà Alpaca
Lạc đà Alpaca

Ngựa Gypsy Vanner

Theo thông tin, giống ngựa nhà Gypsy Vanner được nuôi nhiều ở quần đảo Anh. Chúng có kích thước nhỏ, chân ngắn và bộ lông mượt dài đến chạm đất. Lông ngựa Gypsy Vanner thường có đốm hoặc những mảng vá. Đặc biệt chúng còn có lông dài ở chân, bắt đầu từ gối trở xuống trông khá lạ mắt.


Lông và bờm mao dài bắt đầu từ dưới đầu gối của chân trước và chân sau của hai chân sau và chạy xuống chân chảy trên mặt trước và sau của móng guốc, là một thuộc tính có giá trị cao của Gypsy Horse, tóc thẳng mượt và lông là mong muốn, dù hơi thô và thậm chí cả mái tóc lượn sóng và lông được phép, lông không phải là một nhu cầu đăng ký với Cob Society Ireland, trong đó, tuy nhiên, xem xét lông một "tính năng đặc trưng và trang trí của giống Cob Irish".


Các tiêu chuẩn quốc gia gồm Khuôn mặt ngựa Gypsy nên được thẳng, không quá hẳn mũi. Cổ khỏe, cơ bắp, và chiều dài trung bình với một họng chốt sâu hơn một chút so với các giống nhẹ hơn. Ngực rộng, sâu, và rất mạnh mẽ. Chiều dài của dòng bụng nên được hai lần của đường xương sống của mặt sau và các con ngựa không nên xuất. Các tiêu chuẩn giống Hà Lan cho vanner và các loại đòi hỏi một mạnh mẽ, cơ bắp nổi, có lông phong phú, tương tự như của các hiệp hội khác. Các "Grai" được phân loại như là một loại cưỡi nhẹ hơn và tinh tế hơn.


Chân sau mạnh mẽ xác định giống như một ngựa nhỏ, được thiết kế cho sức mạnh nhưng với sự hiện diện và phong cách. Chúng đôi khi được mô tả là có một cái mông quả táo bóng như mông là cũng làm tròn, thân sau kém cơ bắp hoặc một mông quá dốc là không thể chấp nhận. Xương ở chân nên nặng nề, sạch sẽ, và bằng phẳng.


Cổ chân và móng góc độ của chân sau có nhiều dọc hơn chân trước, thường là trên 50 độ móng guốc tròn và có gót rộng. Hai chân sau của ngựa Gypsy gập góc thích hợp cho một con ngựa kéo. Con ngựa Gypsy có dáng đặc biệt. Con ngựa Gypsy phải là một "mạnh mẽ, thông minh mà làm việc tự nguyện và hòa hợp với việc điều khiển của nó. Chúng cũng được mô tả là lễ phép và quản lý được, háo hức để làm hài lòng, tự tin, dũng cảm, cảnh giác, và trung thành.

Ngựa Gypsy Vanner
Ngựa Gypsy Vanner

Chim bồ câu Nicobar

Loài bồ câu Nicobar có vẻ ngoài sặc sỡ như chim công này được tìm thấy tại các hòn đảo nhỏ và những vùng bờ biển tại quần đảo Nicobar, miền đông quần đảo Mã Lai và cả Solomon và Palau.


Đầu của bồ câu Nicobar có màu xám xanh, giống phần lông cổ trên. Đuôi rất ngắn, thuần trắng. Phần còn lại của bộ lông có màu xanh lục ánh kim xen kẽ những màu sắc rực rỡ như hồng, tím hồng, cam, xanh lá cây, xanh ngọc lục bảo... Với vẻ ngoài đặc biệt này, Nicobar được mệnh danh là loài sở hữu bộ lông đẹp nhất trong thế giới loài chim.


Theo lý giải của các nhà khoa học, sở dĩ những con chim bồ câu Nicobar có màu sắc rực rỡ hơn hẳn những con bồ chim bồ câu thông thường là do vị trí địa lý nơi chúng sinh sống chủ yếu. Sinh sống ở quần đảo nhỏ, nơi không có nhiều kẻ thù tự nhiên, chim bồ câu Nicobar có thể thoải mái khoác lên mình bộ cánh bắt mắt mà không sợ bị phát hiện.


Đây là loài bồ câu lớn, chiều dài đo được khoảng 40cm. Đầu có màu xám xanh, giống phần lông cổ trên. Đuôi rất ngắn, thuần trắng. Phần còn lại của bộ lông có màu xanh lục ánh kim xen kẽ những màu sắc rực rỡ như hồng, tím hồng, cam, xanh lá cây, xanh ngọclục bảo. Đồng tử tối màu. Sở hữu bộ lông đặc biệt lộng lẫy, loài chim bồ câu tuyệt đẹp này khiến nhiều người có ý nghĩ rằng đây là loài chim đến từ thiên đường. Được tìm thấy sinh sống nhiều ở quần đảo Nicobar, một quần đảo nhỏ, nơi mà chúng không có nhiều kẻ thù tự nhiên, chim bồ câu Nicobar có thể thoải mái khoác lên mình bộ cánh bắt mắt mà không sợ bị phát hiện.

Chim bồ câu Nicobar
Chim bồ câu Nicobar

Lạc đà Bactrian

Lạc đà Bactrian (Camelus bactrianus), còn được gọi là Lạc đà Mông Cổ, nó là loài lạc đà móng guốc chẵn bản địa của thảo nguyên của Trung Á. Loài lạc đà hai bướu Bactrian sống ở nhiều sa mạc tại Trung Á và Đông Á. Chúng có họ hàng với lạc đà Arab. Phần đầu lạc đà Bactrian có nhiều sợi lông mọc lưa thưa.


Lạc đà Bactrian thuần hóa đã phục vụ như đóng gói động vật trong bên trong châu Á từ thời cổ đại. Với khả năng chịu lạnh, hạn hán và độ cao lớn, nó cho phép du lịch đoàn lữ hành trên Con đường Tơ Lụa. Lạc đà Bactrian, cho dù thuần hóa hay hoang dã, là một loài riêng biệt với lạc đà Bactrian hoang dã, là loài lạc đà thực sự hoang dã (trái ngược với hoang dã) duy nhất trên thế giới.


Lạc đà Bactrian là loài động vật có vú lớn nhất trong phạm vi bản địa của nó và là loài lạc đà lớn nhất còn sống. Chiều cao vai từ 180 đến 230 cm (5,9 đến 7,5 ft), chiều dài đầu và thân là 225–350 cm (7,38–11,48 ft), và chiều dài đuôi là 35–55 cm (14–22 in). Ở đỉnh của các bướu, chiều cao trung bình là 213 cm (6,99 ft). Khối lượng cơ thể có thể dao động từ 300 đến 1.000 kg (660 đến 2.200 lb), với con đực thường lớn hơn và nặng hơn nhiều so với con cái. Bộ lông dài, lông cừu của nó có nhiều màu khác nhau từ nâu sẫm đến be cát. Trên cổ và cổ họng có một bờm và râu, với những sợi lông dài tới 25 cm (9,8 in).


Bộ lông mùa đông xù xì bị rụng cực kỳ nhanh chóng, với những phần khổng lồ bong ra ngay lập tức, trông như thể ngắn lại một cách cẩu thả. Hai bướu trên lưng được cấu tạo bởi chất béo (không phải nước như người ta thường nghĩ). Khuôn mặt điển hình của loài lạc đà, dài và hơi có hình tam giác, môi trên bị chẻ. Lông mi dài cùng với lỗ mũi có thể bịt kín giúp ngăn bụi trong các trận bão cát thường xuyên xảy ra trong phạm vi tự nhiên của chúng. Hai ngón chân rộng trên mỗi bàn chân có lòng bàn chân không phân chia và có thể lan rộng ra để thích nghi với việc đi trên cát. Bàn chân rất cứng rắn, phù hợp với một loài động vật sống trong môi trường khắc nghiệt.

Lạc đà Bactrian
Lạc đà Bactrian

Chim trĩ vàng

Chim trĩ vàng có tên khoa học là Chrysolophus pictus. Chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng cũng được tìm thấy trong những khu rừng rậm rạp tại Anh, Scotland, Tây Ban Nha và Pháp. Trĩ vàng là một trong những loài có bộ lông rực rỡ nhất trong họ nhà chim với "mái tóc" màu vàng rực rỡ, kết hợp với màu đỏ tươi và xanh lá cây đặc trưng. Đặc biệt, những con chim trống sở hữu chiếc đuôi dài 90-105cm vô cùng ấn tượng, chiếm khoảng 2/3 chiều dài cơ thể.


Chim trĩ vàng ít khi bay và thường dành phần lớn thời gian ở trên mặt đất để tìm kiếm thức ăn như hoa quả, hạt giống và côn trùng. Trĩ vàng tượng trưng cho sự may mắn và thịnh vượng.


Chim Trĩ vàng đực có cơ thể dài từ 80cm cho đến 100cm. Bộ lông đuôi chim đực thường dài trung bình từ 70cm cho đến 100cm. Chim Trĩ vàng đực có lông trên đỉnh đầu là màu vàng và pha thêm phần viền màu đỏ; Ức và bụng cũng là màu vàng óng; Lưng là những dải lông mang màu xanh xám đá và thêm các sợi màu vàng tơ; Chiếc đuôi màu hạt dẻ và các đốm li ti mang màu nâu nhạt; Chân màu vàng xỉn. Chim Trĩ vàng cái có ngoại hình nhỏ hơn chim đực và bộ lông cũng không sặc sỡ, màu xỉn hơn. Thức ăn chủ yếu của chim Trĩ vàng trong tự nhiên chủ yếu là các loại quả, hạt và lá cây nhỏ. Chúng là loài chim có khả năng bay rất tốt nhưng lại rất thích di chuyển hàng ngày và kiếm ăn trên mặt đất. Chỉ khi ngủ chúng mới đậu trên cành cây.


Chim Trĩ vàng không phân bố tại Việt Nam nhưng khi du nhập vào nước ta chúng thích nghi rất tốt với điều kiện sống cũng như môi trường. Hiện nay, chim Trĩ vàng đã hoàn toàn thích nghi tốt với điều kiện nuôi nhân tạo tại rất nhiều địa phương để đáp ứng nhu cầu chơi chim cảnh hay phục vụ khách thăm quan và du lịch,… Ngoài ra, chim Trĩ vàng còn được nuôi để lấy thịt. Thịt chúng cho giá trị dinh dưỡng cao và khá đắt đỏ.

Chim trĩ vàng
Chim trĩ vàng

Bồ câu vương miện Victoria

Bồ câu vương miện Victoria là loài chim bồ câu lớn nhất thế giới. Chúng thường sống trong các khu rừng ở New Guinea. Ngoài bộ lông vũ màu xanh xám, sự lộng lẫy của loài chim này xuất phát từ điểm nhấn là "mái tóc" hình cánh quạt trên đỉnh đầu. Dù hiện không nằm trong diện nguy cấp, bồ câu vương miện Victoria từng có một lần gần tuyệt chủng do bị con người săn bắt.


Chúng là một loài chim bồ câu có màu xám xanh, lớn mào màu xanh giống như đăng ten, ngực và mống mắt nâu đỏ. Đây là loài chim cu hay bồ câu lớn nhất, dài từ 70–75 cm, nặng từ 2-2.5 kg với kích thước tối đa là 80 cm và nặng 3.5 kg. Một trong ba loài bề ngoài tương tự như của chim bồ câu này là bồ câu vương miện miền tây, bồ câu vương miện miền nam, bồ câu vương miện Victoria phân bố trong vùng đồng bằng và rừng đầm lầy ở miền bắc New Guinea và các đảo xung quanh. Chế độ ăn uống của nó bao gồm chủ yếu các loại trái cây, sung, hạt giống và vật không xương sống. Con mái thường đẻ một quả trứng duy nhất màu trắng. Danh pháp của nó đặt theo Nữ hoàng Victoria của Anh.


Sở hữu vẻ bề ngoài mỹ miều với bộ lông vũ màu xanh pha ánh tím tuyệt đẹp, đôi mắt sắc sảo đỏ rực nổi bật có viền và đặc biệt là chỏm lông dựng như mào trên đỉnh đầu. Chỏm lông này giống như một thứ trang sức lộng lẫy với những điểm nhấn trắng hình cánh quạt. Cũng chính chỏm lông trang sức khiến loài chim này hệt như một nữ hoàng đang đội vương miện.

Bồ câu vương miện Victoria
Bồ câu vương miện Victoria

Bồ nông Dalmatian

Bồ nông Dalmatian có lông tơ trên đầu trông giống như bộ tóc giả. Đây là một trong những giống chim biết bay nặng nhất. Bồ nông Dalmatian là một thành viên khổng lồ của họ Bồ nông. Được sinh sản từ đông nam châu Âu đến Ấn Độ và Trung Quốc trong các đầm lầy và các hồ cạn. Tổ được làm trên một đống thô của thảm thực vật. Không có phân loài được biết là tồn tại trên phạm vi rộng của nó, nhưng dựa trên sự khác biệt kích thước, một cổ phân loài Pleistocene Pelecanus crispus palaeocrispus đã được miêu tả từ các hóa thạch thu được ở Binagady, Azerbaijan.


Nó là loài chim lớn nhất trong các loài bồ nông và một số loài chim còn sống lớn nhất. Nó dài 160 đến 183 cm, nặng 9–15 kg và sải cánh dài 290–351 cm.


Với một trọng lượng trung bình khoảng 11,5 kg (25 lb), nó là loài chim bay nặng nhất trên thế giới tính trung bình dù ô tac trống và thiên nga có thể vượt quá bồ nông về trọng lượng tối đa. Nó cũng dường như là một trong những loài có sải cánh lớn nhất trong các loài chim còn sống, cạnh tranh với chim hải âu lớn.


Với một trọng lượng trung bình khoảng 11,5 kg, nó là loài chim bay nặng nhất trên thế giới tính trung bình dù ô tác trống và thiên nga có thể vượt quá bồ nông về trọng lượng tối đa. Loài chim này thường ăn cá, đôi khi ăn cả những loài giáp xác hay một số loài chim nhỏ. Chúng luôn khoác trên mình bộ lông màu trắng xám quen thuộc với chiếc mỏ dài và túi hầu đỏ vàng rất đặc trưng. Mùa sinh sản của Bồ nông Dalmatian bắt đầu từ cuối tháng 3 hoặc tháng 4. Do xuất hiện ngày càng nhiều mối đe dọa như ao, hồ, đầm lầy khô cạn, tình trạng săn bắn bừa bãi, ô nhiễm nguồn nước cùng các tác nhân khí hậu… nên loài chim ưa lối sống bầy đàn này ngày càng bị thu hẹp về số lượng quần thể và đã sớm bị liệt vào danh sách loài dễ bị tổn thương (VU) trong Sách Đỏ IUCN.

Bồ nông Dalmatian
Bồ nông Dalmatian

Bình luận

Có Thể Bạn Quan Tâm ?