Top 17 Loài động vật xấu xí nhất thế giới

Trong thế giới động vật hoang dã, có rất nhiều loài động vật cực đẹp, nhưng cũng có rất nhiều loài xấu xí. Dưới đây là top những loài động vật xấu nhất. Cùng Toplist tìm hiểu nhé!

Chuột chũi mũi sao

Chỉ nghĩ đến phần thịt thừa màu hồng nhô ra từ mũi và liên tục hít ngửi để tìm kiếm thức ăn của loài chuột chũi này cũng khiến bạn phải rùng mình. Cái mũi kỳ lạ đó khiến cho nó trông giống như sản phẩm của sự kết hợp giữa một con chuột và một con bạch tuộc vậy.


Chuột chũi mũi sao (tên khoa học Condylura cristata) là một loài chuột chũi nhỏ được tìm thấy trong các khu vực thấp ẩm của miền đông Canada và đông bắc Hoa Kỳ, với ghi chép dọc theo bờ biển Đại Tây Dương như xa về cực đông nam Georgia. Nó là thành viên duy nhất trong tông Condylurini và chi Condylura. Chuột chũi mũi sao có chiếc mũi với hai mươi hai phần phụ thịt màu hồng, được sử dụng như một cơ quan cảm ứng với các thụ thể cảm giác hơn 25.000 nút nhỏ gọi là các cơ quan Eimer. Với sự giúp đỡ của các cơ quan Eimer, nó có thể hoàn toàn sẵn sàng để phát hiện các rung động sóng địa chấn. Chúng chủ yếu ăn các động vật không xương sống nhỏ, ấu trùng côn trùng và giun đất.


Loài này cũng có thể ngửi thấy mùi dưới nước, được thực hiện bằng cách thở ra bọt khí vào các vật thể hoặc đường mòn mùi hương và sau đó hít vào các bong bóng để mang mùi hương trở lại qua mũi

Chuột chũi mũi sao
Chuột chũi mũi sao
Chuột chũi mũi sao
Chuột chũi mũi sao

Khỉ Aye-aye

Đây là loài linh trưởng đang được xếp vào nhóm nguy cấp. Chúng có tai to, mắt lớn và thường xuyên mở, ngón tay thon nhỏ và dài giống bàn tay phù thủy giúp chúng cạy côn trùng và ấu trùng trong thân cây để làm thức ăn.. Với những đặc tính đối lập như vậy nên các nhà khoa học phân loại chúng như một loài gặm nhấm. Khi còn nhỏ, chúng có đám lông bạc ở mặt trước với một sọc ở phía sau lưng. Đến khi trưởng thành, màu lông này sẽ bao phủ toàn bộ cơ thể chúng.


Chúng có kích thước khá nhỏ bé, chiều dài cơ thể chỉ vào khoảng 25–35 cm, khi trưởng thành kich thước lớn nhất là khoảng 1 m,nặng 2 kg (tối đa chừng 3 kg) và có một cái đuôi khá dài và lớn, có thẻ dài tương đương hoặc là dài hơn thân mình, nhìn từ xa trông chúng giống loài sóc. Lông trên cơ thể thường có màu nâu sẫm hoặc màu đen, cổ và mặt phủ lông trắng. Đôi tai lớn sẫm màu và vểnh ra phía trước. Mõm tương đối nhọn. Mắt tròn, lớn và trố. Đặc biệt, chúng có hàm răng với những răng cửa lớn và rất chắc khỏe, năm ngón tay thon nhỏ và rất dài (có thể đạt 10–12 cm). Các răng cửa của Aye Aye phát triển liên tục và được sử dụng để gặm vỏ cây hỗ trợ cho ngón tay để lấy thức ăn từ bên trong vỏ cây.


Loài khỉ này có những chiếc răng cửa to và chắc khỏe của động vật gặm nhấm và một ngón giữa khá dài mà nó dùng để lấy thức ăn giống như chim gõ kiến. Chúng có đôi mắt to mở rộng đôi tai dơi lớn sẫm màu và vểnh ra phía trước và ngón tay dài đặc biệt có móng của ngón giữa rất dài, giúp chúng bám lên cành cây tìm thức ăn và bắt mồi. Những ngón tay dài ngoằn ngoèo dị thường của chúng rất nhạy cảm, chúng sẽ gõ lên các thân cây và lắng nghe âm thanh dội lại và xác định chính xác được vị trí những con ấu trùng, sâu bọ đang ẩn nấp trong thân cây. Aye Aye có khả năng cảm nhận chuyển động của côn trùng ở độ sâu 3 đến 4m. Tuổi thọ của loài này trung bình là 10 năm tuổi.

Khỉ Aye-aye
Khỉ Aye-aye
Khỉ Aye-aye
Khỉ Aye-aye

Ếch tím

Loài ếch này rất xấu xí đặc biệt là khi chúng có màu tím, cơ thể phình to như bong bóng và có cái mõm nhọn. Chúng thậm chí còn được ghi nhận là một loài bất thường trong họ nhà ếch. Khi mới bị phát hiện,các nhà khoa học tự nhiên đã phát hiện loài ếch màu tím. Lúc đầu, người ta không biết xếp chúng vào loài gì, bởi hình thù hết sức kỳ quái.


Chúng được phát hiện ở vùng đất rộng lớn và bí ẩn của Ấn Độ, đó là dãy núi Ghats. Với màu tím đặc trưng lúc trưởng thành, chúng còn được gọi là ếch tím. Người dân địa phương cho rằng, nó đến từ địa ngục bởi ngoài bộ dạng kỳ dị, chúng trốn dưới lòng đất sâu tới 4 mét.


Các nhà khoa học đã nghiên cứu tập tính, hình thái và xếp chúng vào họ nhà ếch. Chúng được định danh khoa học là Sahyadrensis Aikabatrachus, thuộc họ Sooglossidae. Theo các nhà khoa học, chúng có mặt trên trái đất hàng triệu năm trước. Tuy nhiên, chúng đào hang sâu dưới lòng đất, ít xuất hiện, khó gặp, nên tập tính của chúng vẫn rất bí ẩn.


Họ hàng gần nhất của ếch Sahyadrensis Aikabatrachus là Nasikabatrachus. Chúng đã tiến hóa riêng biệt từ cả triệu năm trước, sau sự tan rã của lục địa Ấn Độ. Cơ thể to, phình ra như bong bóng, nhưng chúng lại có cái đầu nhỏ bất thường, với cái mõm nhọn. Chúng dùng cái lưỡi dài của mình để kiếm ăn.

Ếch tím
Ếch tím
Ếch tím
Ếch tím

Dơi móng ngựa

Họ đặt tên này cho chúng vì các chi tiết vằn trên mũi chúng có hình móng ngựa. Khi kiểm tra kỹ hơn bạn sẽ phát hiện ra chúng có một bộ ngực gần với bộ phận sinh dục.


Dơi móng ngựa được chia thành sáu phân chi và nhiều nhóm loài. Tổ tiên chung gần đây nhất của tất cả các loài dơi móng ngựa sống cách đây 34–40 triệu năm, mặc dù không rõ nguồn gốc địa lý của chúng là ở đâu và những nỗ lực xác định địa sinh học của chúng vẫn chưa được xác định. Sự phân loại dơi móng ngựai rất phức tạp, vì bằng chứng di truyền cho thấy có khả năng tồn tại nhiều loài bí hiểm, cũng như các loài được công nhận là khác biệt có thể có ít sự khác biệt về gen với các đơn vị đã được công nhận trước đây. Chúng được tìm thấy ở Cựu thế giới, chủ yếu ở các khu vực nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, bao gồm Châu Phi, Châu Á, Châu Âu và Châu Đại Dương.


Chúng có lá mũi lớn, có hình giống như móng ngựa. Các lá mũi hỗ trợ định vị bằng tiếng vang; dơi móng ngựa có khả năng định vị bằng tiếng vọng rất tinh vi, sử dụng các tiếng kêu tần số liên tục ở chu kỳ hiệu suất cao để phát hiện con mồi ở những khu vực có môi trường lộn xộn cao. Chúng săn côn trùng và nhện, sà xuống con mồi từ một nơi đậu trên cao, hoặc mò mẫm từ tán lá.

Dơi móng ngựa
Dơi móng ngựa
Dơi móng ngựa
Dơi móng ngựa

Lợn nanh rừng châu Phi

Được tìm thấy ở châu Phi cận Sahara, Warthog (lợn nanh rừng châu Phi) có thân hình như cái thùng, đầu to lớn, với 6 cái bướu to và những chiếc răng nanh cong. Chúng cao trung bình 60-80cm, nặng khoảng 50 kg.


Mặc dù được bao phủ bởi những sợi lông rậm rạp nhưng nhìn từ xa, cơ thể và đầu của chúng hầu như trần trụi, chỉ có mào dọc theo lưng, những chùm lông trên má và đuôi của chúng rõ ràng là có lông. Chúng cũng có những chiếc ngà rất khác biệt , dài tới 10 đến 25 inch (25 đến 64 cm) ở con đực, nhưng luôn nhỏ hơn ở con cái. Chúng chủ yếu là động vật ăn cỏ , nhưng đôi khi cũng ăn động vật nhỏ.


Sự thật đáng kinh ngạc về Lợn nanh rừng châu Phi:

  • Lớp da dày trên mặt của khỉ giúp bảo vệ con đực khi chúng chiến đấu trong mùa giao phối.
  • Lợn nanh rừng châu Phi cái là loài động vật xã hội và sống theo nhóm được gọi là bầy đàn, trong khi những con đực có tính lãnh thổ cao hơn và thích sống một mình.
  • Giống như các loài lợn khác, chúng không có tuyến mồ hôi và phải lăn lộn trong bùn để giải nhiệt.
  • Những con cái bị mất con sẽ nuôi dưỡng những con khác đang bú mẹ.
Lợn nanh rừng châu Phi
Lợn nanh rừng châu Phi
Lợn nanh rừng châu Phi
Lợn nanh rừng châu Phi

Vẹt Kakapo

Theo Hiệp hội Khoa học Anh, vẹt Kakapo là một loài chim xấu xí ở New Zealand và đang đối mặt nguy cơ tuyệt chủng mức nguy cấp. Nó là loài chim duy nhất trên thế giới không thể bay được và có cặp đùi rất to khỏe. Giới khoa học ước tính chỉ còn 124 con chim này sống trong tự nhiên.


Kakapo là loài cực kỳ nguy cấp, tính đến tháng 6 năm 2016, chỉ 154 cá thể đang sống được biết đến, hầu hết trong số đó đã được đặt tên gọi. Sự vắng mặt của động vật ăn thịt khiến loài này mất khả năng bay. Do quá trình thực dân hóa của người Polynesia và người châu Âu và họ du nhập những động vật ăn thịt chẳng hạn như mèo, chuột, chồn sương, và chồn ecmin, Kakapo đã gần như bị xóa sổ.


Những nỗ lực bảo tồn bắt đầu vào những năm 1890, nhưng không thành công lắm, người ta cũng có kế hoạch phục hồi Kakapo trong những năm 1980. Tính đến tháng 4 năm 2012, những con Kakapo sống sót được bảo tồn trên ba hải đảo không có loài săn mồi, trên các đảo Codfish (Whenua Hou), Anchor và Little Barrier, được giám sát chặt chẽ. Hai đảo lớn Fiordland, Resolution và Secretary, là chủ đề của các hoạt động phục hồi sinh thái quy mô lớn để chuẩn bị tự duy trì hệ sinh thái với môi trường sống thích hợp cho các con Kakapo.

Vẹt Kakapo
Vẹt Kakapo
Vẹt Kakapo
Vẹt Kakapo

Rùa mũi lợn

Chúng còn được biết đến là loài vỏ mềm. Những con rùa này sở hữu một chiếc cổ khá dài mà rõ ràng là không hề tương xứng với kích thước cơ thể của chúng. Với những lỗ mũi hình ống thông hơi khá đặc biệt đã cứu vớt phần nào vẻ ngoài không mấy đẹp đẽ của chúng. Bạn chắc chắn sẽ không muốn ôm chúng vào lòng chút nào bởi vì lớp vỏ mềm của chúng có cảm giác không hề dễ chịu.


Rùa mũi lợn được phát hiện ở Bắc Úc, Nam New Guinea và Nam Irian Jaya. Chúng sống chủ yếu trong môi trường như sông, ven sông, hồ đầm và ao. Đa số loài rùa này sống trong vùng nước ngọt có độ sâu hơn 1,8m. Bên cạnh đó, nơi đó còn có thêm sỏi và cát dưới đáy và vùng biển cần bồi thêm phù sa.


Rùa mũi lợn có thể nói sở hữu hình thái lạ, khi chiếc mũi của chúng có nhiều thịt hơn, trong giống mũi lợn. Vì thế chúng có tên là rùa mũi lợn, và thêm vào đó sau phần mắt có thêm đường vằn màu xám. Vì loài rùa này chủ yếu sống trong nước ngọt, nên các chi của chúng tiến hóa chuyển thành chân chèo tự như loài rùa biển, và cũng không thể nào chui vào mai được. Bên cạnh đó, mỗi bên chân trước có thêm hai móng vuốt ở gần bàn chân.

Rùa mũi lợn
Rùa mũi lợn
Rùa mũi lợn
Rùa mũi lợn

Khỉ vòi

Chúng có cái mũi dài lên tới 4 inch(10cm), chiếc bụng phệ và khuôn mặt màu hồng cam. Khi nhìn lướt qua loài vật này dễ khiến chúng ta liên tưởng đến nhân vật Pinocchio hay nói dối với chiếc mũi dài đặc trưng. Chúng cũng là chủ nhân của rất nhiều trò nghịch ngợm. Bên cạnh đó, bàn tay và chân của khỉ vòi cũng có màng giúp chúng dễ dàng bắt hoặc chộp đươc mọi thứ mà chúng muốn.


Khỉ vòi hay khỉ mũi vòi (Danh pháp khoa học: Nasalis larvatus) hoặc còn gọi là khỉ mũi dài hay bekantan (tiếng Mã Lai), là một loài khỉ phân bố ở vùng Cựu thế giới và là loài đặc hữu của các hòn đảo Đông Nam Á ở Borneo. Đây là một động vật đặc hữu của vùng Đông Nam Á, chúng được biết là một trong những động vật có ngoại hình xấu xí với bộ dạng một chiếc bụng phệ và một chiếc mũi dài quá khổ, ngoài ra chúng có khả năng đặc biệt là có thể nhai lại như bò.


Khỉ vòi thuộc Bộ linh trưởng, chúng vốn có mặt khá phổ biến trên thế giới nhưng, hiện nay loài này là đặc hữu của quần đảo Borneo thuộc Indonesia. Ngày nay, số lượng khỉ vòi đã bị sụt giảm ở mức báo động. Trong vòng 30–40 năm qua, số lượng loài này đã sụt giảm 50%, nguyên nhân là những khó khăn trong việc sinh tồn và đặc biệt là sự săn bắn quá mức của con người. Hiện nay khỉ vòi được xếp vào danh mục động vật nguy cấp trong sách đỏ.

Khỉ vòi
Khỉ vòi
Khỉ vòi
Khỉ vòi

Hải cẩu voi

Hải cẩu voi là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được mô tả năm 1758. Hải cẩu voi là loài có chân màng lớn nhất và thành viên lớn nhất của bộ Carnivora còn tồn tại, cũng như là loài hải cẩu lớn nhất Nam Cực. Chúng có tên như vậy là do kích thước lớn của nó và vòi lớn của con trưởng thành được sử dụng để phát ra âm thanh ầm ầm cực kỳ lớn, đặc biệt là trong mùa giao phối. Các hải cẩu voi phương Nam là loài ăn thịt lớn nhất còn sống, với con đực thậm chí còn lớn hơn so với gấu Bắc Cực.


Chúng có dị hình lưỡng tính rất lớn về kích thước, có thể là khác biệt lớn nhất trong các loài động vật có vú, với những con đực thường nặng gấp 5-6 lần hơn so với con cái. Trong khi con cái thường có cân nặng 400–900 kg và dài 2,6–3 m, các con đực điển hình cân nặng từ 2200–4000 kg và dài 4,2-5,8 m.


Một con cái trưởng thành có cân nặng trung bình 771 kg, trong khi một con đực trưởng thành có cân nặng trung bình khoảng 3.175 kg.

Hải cẩu voi
Hải cẩu voi
Hải cẩu voi
Hải cẩu voi

Rồng komodo

Rồng Komodo (Varanus komodoensis) là một loài thằn lằn lớn được tìm thấy trên các đảo của Indonesia, gồm Komodo, Rinca, Flores và Gili Motang.Là thành viên của Chi Kỳ đà thuộc họ Varanidae, và là loài thằn lằn lớn nhất còn tồn tại cho đến bây giờ, chiều dài tối đa 3 mét (10 ft) và nặng khoảng 70 kilôgam (150 lb).


Do kích thước của chúng, những con thằn lằn này thống trị hệ sinh thái trên hòn đảo mà chúng đang sinh sống. Rồng Komodo săn và phục kích con mồi bao gồm động vật không xương sống, chim, và động vật có vú. Người ta khẳng định rằng chúng có nọc độc; có hai tuyến ở hàm dưới tiết ra một số protein độc. Ý nghĩa sinh học của các protein này đang còn là chủ đề gây tranh cãi, nhưng các tuyến đã được chứng minh là tiết ra chất chống đông máu. Tập tục săn mồi theo nhóm của rồng Komodo rất đặc biệt trong thế giới bò sát. Chế độ ăn của rồng Komodo chủ yếu là nai nhỏ Indonesia, mặc dù chúng cũng ăn một lượng đáng kể xác thối. Rồng Komodo thỉnh thoảng tấn công con người.


Rồng Komodo được các nhà khoa học phương Tây ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1910. Kích thước to lớn khiến chúng thường được nuôi trong vườn thú. Trong tự nhiên, phạm vi phân bố của chúng bị thu hẹp do các hoạt động của con người, và chúng được liệt kê vào danh sách loài sắp nguy cấp bởi IUCN.

Rồng komodo
Rồng komodo
Rồng komodo
Rồng komodo

Cá vàng hướng thiên

Khi mới sinh ra chúng khá dễ thương nhưng rồi lại trở nên xấu xí khi trưởng thành. Với đôi mắt lồi và thân hình như quả trứng, rất khó để có thể nghĩ rằng chúng là loài cá cảnh. Và trên thực tế chúng còn bị mù.


Chúng có đôi mắt to giống như loại cá mắt kính viễn vọng Demekin nhưng luôn ngước ngược lên bên trên, nhìn khá là kỳ cục. Thân mình thì có hình dáng giống loài cá ngư lôi và không có vây trên. Kích thước chúng là 21 cm, chiều dài cơ thể 5,5 cm. Thân ngắn, không quá dài. Hình dạng bên ngoài mềm mại.


Cá vàng hướng thiên có thân hình ngắn dạng trứng với cặp mắt to trông mỏng manh và lồi lên trên so với bề mặt cơ thể. Mắt cân xứng hai bên và hướng lên trên, do đó chúng khá khó khăn để tìm thức ăn trên mặt nước. Cá vàng hướng thiên không có vây lưng. Màu sắc của chúng có thể là kim loại hoặc đốm, chủ đạo là màu vàng. Vây đuôi phân chia rõ và chĩa ra.


Tuổi thọ của chúng là từ 10-15 năm. Chúng khó nuôi. Cần 20 gallon nước/con. Nhiệt độ nuôi là rất quan trọng, tránh ánh sáng. Tầng sống của chúng là tất cả các tầng. Thức ăn của chúng là tất cả các loại thức ăn, khẩu phần ăn có 30% protein. Sinh sản ở giống cá này thì rất khó sinh sản.

Cá vàng hướng thiên
Cá vàng hướng thiên
Cá vàng hướng thiên
Cá vàng hướng thiên

Chuột trụi lông

Loài chuột trụi lông có các nếp nhăn màu hồng hoặc vàng rất xấu xí. Chúng có đôi chân mỏng và ngắn với đôi mắt rất nhỏ và hai chiếc răng cửa nhô ra ngoài. Điều này làm cho chúng trông giống như những cây xúc xích nướng chưa chín vậy. Chúng ta cũng không ngạc nhiên khi biết chúng giành phần lớn thời gian để đào bới dưới lòng đất.


Chuột có lớp da nhăn nhúm màu hồng, trụi lông và hàm răng kiếm, có xúc giác rất nhạy cảm, có thể để thay thế đôi mắt gần như mù của chúng. Là loài có tuổi thọ cao hàng đầu trong họ động vật gặm nhấm và sức khỏe luôn trong tình trạng tốt nhất suốt cuộc đời. Da của chúng không hề có cảm giác gì trước axit hay ớt. Đây là loài động vật có vú máu lạnh duy nhất được biết đến trên trái Đất.


Chuội dũi trụi lông có khả năng loại bỏ những protein bị tổn thương một cách hiệu quả, đồng thời giữ lại những protein ổn định và có chất lượng cao. Nhờ đó mà chúng không mang những biểu hiện thông thường của sự lão hóa như suy giảm chức năng não.[5] Một số nhân tố khác cũng góp phần làm tăng tuổi thọ của loài chuột dũi này phải kể đến nữa là tốc độ trao đổi chất trong cơ thể chúng rất thấp, giúp làm giảm quá trình oxy hóa. Chuột tuy rất bé nhỏ nhưng có thể sống lâu tới 26 năm hoặc hơn nữa, và điều đặc biệt nhất là chúng vẫn có thể sinh sản ở tuổi rất già.

Chuột trụi lông
Chuột trụi lông
Chuột trụi lông
Chuột trụi lông

Chim ưng Califonia

Thần ưng California (tên khoa học: Gymnogyps californianus) là một loài chim thuộc họ Kền kền[2]. Trước đây phổ biến rộng tại khu vực miền núi tại miền tây Bắc Mỹ. Nó là loài chim lớn nhất Bắc Mỹ. Loài này sinh sống ở phía bắc Arizona và nam Utah (bao gồm cả khu vực Grand Canyon và vườn quốc gia Zion), dãy núi ven biển miền trung và miền nam California, và phía bắc Baja California. Mặc dù các thành viên hóa thạch khác được biết đến, đó là thành viên duy nhất còn sót của chi Gymnogyps.


Bộ lông có màu đen với những mảng trắng trên mặt dưới của cánh và đầu phần lớn là hói, có màu da khác nhau, từ màu xám trên chim non đến màu vàng và màu cam sáng đối với con chim trưởng thành mùa sinh sản.


Thần ưng California là một loài nhặt rác và ăn một lượng lớn xác chết thối. Đây là một trong những loài chim sống thọ nhất thế giới, với tuổi thọ lên đến 60 năm. Số lượng đã đáng kể giảm trong thế kỷ 20 do săn bắt trộm, nhiễm độc chì, và phá hủy môi trường sống.

Chim ưng Califonia
Chim ưng Califonia
Chim ưng Califonia
Chim ưng Califonia

Cá monkfish

Cá monkfish là loài cá được đánh giá là một trong những loài cá xấu xí bậc nhất vùng biển khơi với làn da xù xì cùng bộ răng nham nhở.


Ở vùng nước phía nam nước Úc, chúng sống ở độ sâu 400 – 900 mét, có thể dài đến 70 cm và nặng ít nhất 8 kg. Chi cá này có cơ thịt và mùi vị độc đáo. Cá monkfish sống ở biển Địa Trung Hải và cả hai phía của Đại Tây Dương, có trọng lượng trung bình khoảng 5 kg.


Phần thịt phía đuôi là quan trọng nhất của cá, thịt cá này có thể thay thế cho một số món ăn nơi tôm hùm được đòi hỏi. Thịt màu trắng, cơ thịt chắc, khó vỡ thành mảnh khi nấu nướng. Rất thích hợp với mọi cách nấu nướng, và thịt có đặc tính giống như thịt tôm hùm. Monkfish được bán tươi, đông lạnh hoặc xông khói và thường được bỏ đầu, bỏ da, còn đuôi hoặc dạng fillet. Monkfish có mùi vị đại dương, không có mùi tanh của cá.


Cá chày có vẻ ngoài rất đáng sợ như là sự kết hợp giữa một chiếc nắp bồn cầu và khuôn mặt kinh dị của sát thủ như bóng ma lướt trong màn đêm tối tăm của biển cả. Loài cá này nổi tiếng với việc nằm bất động ngụy trang dưới một lớp cát mỏng và chờ đợi kẻ xấu số bơi ngang qua rồi bất thình lình đớp lấy. Tuy nhiên, chúng còn được biết đến với khả năng lao vọt lên không trung để "săn" các loài chim biển.

Cá monkfish
Cá monkfish
Cá monkfish
Cá monkfish

Chó quán mao Trung Quốc

Đây là loài chó cảnh khá dị thường. Những người yêu chó sẽ không muốn trao đổi chó của họ với loài chó không lông này. Chúng chỉ có lông trên đầu, chân, trên đuôi và đôi khi là ở ria. Phần còn lại của cơ thể chúng không hề có lông giống như con người. Điều này thật không bình thường và đáng yêu chút nào. Chúng cao khoảng 11 inch(28cm) và có đôi chân dài hơn so với những con chó khác.


Là loài chó có diện mạo độc nhất vô nhị với ngoại hình xấu và trên đầu có chỏm lông giống như mào, loại chó này hầu như luôn giành giải chó xấu xí nhất hành tinh trong các cuộc thi sắc đẹp dành cho chó. Cơ thể chúng không có lông chỉ trừ một chỏm trên đỉnh đầu trông như mào gà, một túm ở đuôi và một ít ở các ngón chân. Chiều cao, trọng lượng: cao 30 cm; cân nặng không quá 4,5kg.


Có hai loại riêng biệt về giống chó bất thường này, loại thứ nhất không có lông ngoại trừ lông ở chân, đầu, đuôi gọi chung là “chó không lông”; loại thứ hai gọi là loại lông dài (Powder Puff), chúng có bộ lông dài mềm. Cả hai loại nêu trên đều có nhiều màu lông. Loại có nhiều mảng màu lông trên cơ thể hoặc loại lông đốm. Giống chó này có hộp sọ rộng, mõm dài. Mắt tối và tai dựng thẳng. Cả hai loại thường có số lượng con bằng nhau trong mỗi lứa đẻ.

Chó quán mao Trung Quốc
Chó quán mao Trung Quốc
Chó quán mao Trung Quốc
Chó quán mao Trung Quốc

Cá blobfish

Loài động vật kỳ lạ này có phần nhớt nằm ở cặp mắt và vây, chúng được Tổ chức bảo tồn động vật xấu xí (Ugly Animal Preservation Society) bình chọn là… chuẩn mực của cái xấu. Blobfish có tên khoa học là Psychrolutes marcidus. Chúng có làn da màu trắng sữa hay hồng, nhưng cơ thể lúc nào cũng phồng rộp lên, khuôn mặt "phị" ra, trĩu xuống, trông lúc nào cũng buồn thảm.


Loài cá này lần đầu được tìm thấy tại các vùng biển thuộc New Zealand và Úc. Đây cũng là những địa điểm có áp suất cao hơn mặt biển khoảng 118 lần. Loài cá này còn đặc biệt ở chỗ chúng không hề sở hữu bất kỳ một mô cơ nào. Chúng sống ở nơi ít thức ăn vậy nên blobfish có cách săn mồi có phần... nhàn rỗi.


Blobfish lơ lửng trong nước, chờ đợi con mồi đi qua (thường là cua, nhím biển, động vật có vỏ...) rồi mở miệng nuốt trọn con mồi. Theo các khoa học gia, phương pháp săn mồi này giúp chúng tiết kiệm năng lượng một cách tối đa.


Loài cá này sống ở độ sâu giữa 600 và 1.200 m (2.000 và 3.900 ft) với độ mặn của nước biển là 33°S, nơi có áp suất cao hơn mặt nước biển hàng chục lần, có khả năng làm cho bong bóng cá không hiệu quả để duy trì sức nổi. Việc thiếu cơ bắp của cá không phải là một bất lợi khi nó chủ yếu hấp thụ các loài sinh vật ăn được nổi trên nó, ví dụ là các loài giáp xác biển sâu như cua và tôm.

Cá blobfish
Cá blobfish
Cá blobfish
Cá blobfish

Lười 3 ngón

Đặc trưng chung của những con lười là sự chậm chạp và lười vận động và có ngoại hình trông khá ngu đần, thờ ơ, nhưng đây chính là sự tiến hóa để thích nghi với môi trường sống của chúng, nhất là những môi trường không có nhiều chất dinh dưỡng thì chúng phải tiết chế năng lượng bằng cách hạn chế sự vận động. Chúng ngủ khoảng 10 tiếng 1 ngày, ăn uống rất điều độ.


Lười mặt đất có bộ móng sắc nhọn có thể đứng thẳng bằng hai chân sau. Chúng dài gần 6m và có trọng lượng 4 tấn bằng trọng lượng của một con voi châu Phi. Lười mặt đất là động vật có vú, di chuyển chậm chạp và ăn cỏ. Các móng vuốt sắc nhọn giúp nó có thể bám vào cành cây móc lá để ăn.


Những con lười đang sống trên cây hiện nay là hậu duệ của loài lười có vú, thân hình khá lớn. Khi thực phẩm trên cạn không còn phong phú thì những con lười cổ xưa này bắt đầu lần mò ra biển để tìm thức ăn. Khi khan hiếm thức ăn, những con lười xưa có thể lặn xuống biển để nhấm nháp rong cỏ ở vùng nước nông rồi sau đó có thể lội biển xa hơn và lặn sâu hơn. Tuy nhiên, loài lười không chuyển hẳn sang sống môi trường biển mà đó chỉ là giải pháp tình thế khi khó khăn.

Lười 3 ngón
Lười 3 ngón
Lười 3 ngón
Lười 3 ngón

Bình luận

Có Thể Bạn Quan Tâm ?